trắc nghiệm nhập môn khoa học giao tiếp
A.A.Leonchiev đã liệt kê các kỹ năng giao tiếp sư phạm như kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức.
Trong bài viết này chúng tôi hướng dẫn, gợi ý cách làm bài tập trắc nghiệm cuối khoá module 5. Mọi thắc mắc xin vui lòng để lại bình luận dưới bài viết. 1. Chọn đáp án đúng nhất. 2. Chọn đáp án đúng nhất. 3. Chọn cặp tương ứng bằng cách click ô bên trái và sau đó
Download tài liệu document đề cương nhập môn khoa học giao tiếp - tài liệu, ebook, giáo trình, hướng dẫn miễn phí tại Xemtailieu. Menu ; Đăng nhập. 222 câu hỏi trắc nghiệm tin học văn phòng phục vụ thi tuyển 26 134454 219.
a) Thông tin truyền tải thời điểm không gian cụ thể b) Người giao tiếp không bị tập trung c) Giao tiếp diễn nhanh chóng, dễ dàng tiện lợi d) Những thông tin phức tạp truyền tải xác e) Bạn đạt nhiều mục đích khoảng thời gian ngắn Đáp án: a, b, d Khi giao tiếp trực tiếp, bạn loại bỏ yếu tố gây nhiễu không gian, công nghệ gây Giao tiếp trực tiếp khiến người giao tiếp tập trung, thông tin
Vay Tien Online Me. Tài liệu "Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh" có mã là 548794, file định dạng doc, có 7 trang, dung lượng file 66 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Tài liệu chuyên ngành > Chuyên Ngành Kinh Tế > Thương Mại - Marketing. Tài liệu thuộc loại ĐồngNội dung Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanhTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 7 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanhNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanhTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Đề thi trắc nghiệm, hoặc là Đề thi trắc nghiệm tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Đề thi trắc nghiệm môn học, hoặc là Đề thi trắc nghiệm môn học nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như De thi trac nghiem, De thi trac nghiem mon, De thi trac nghiem mon hoc, De thi trac nghiem mon hoc Giao, đều cho ra kết quả chính xác. môn môn học Giao Đề thi trắc nghiệm kinh doanh Đề trong trong kinh trắc nghiệm Đề thi trắc nghiệm môn Đề thi Giao tiếp học Đề thi trắc nghiệm môn học Giao thi tiếp trắc Đề thi Đề thi trắc nghiệm Đề thi trắc nghiệm môn học Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Đề thi trắc nghiệm môn học Giao tiếp trong kinh doanh" Tài liệu vừa xem Đề thi trắc Đề thi Đề thi trắc nghiệm môn học Đề thi trắc nghiệm môn học Giao Đề thi trắc nghiệm Đề thi trắc nghiệm môn
NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP Nguyễn Sinh Huy – Trần Trọng Thuỷ Chương 1 KHOA HỌC GIAO TIẾP VÀ HÀNH VI GIAO TIẾP I. GIAO TIẾP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIAO TIẾP A. VAI TRÒ CỦA GIAO TIẾP TRONG XÃ HỘ 1. Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xã hội hoá của mỗi cá nhân và cả với sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung Trong diễn tiến của xã hội, các cá nhân có sự tác động qua lại với nhau, mỗi cá nhân qua giao tiếp sẽ học hỏi được những hành vi xã hội thích hợp và hiểu được tác dụng, ý nghĩa của những hành vi đó trong điều kiện xã hội mà họ đang sống. Nói theo quan điểm xã hội học thì đó chính là văn hoá xã hội, là các yếu tố đảm bảo cho sự hợp tác, sự chung sống của các cá nhân trong xã hội. – Giao tiếp có tính quần chúng Mass Commumcation hay còn gọi là truyền thông đại chúng Mass Media lại càng có vai trò và tác dụng quan trọng trong xã hội hiện đại. Thuộc phạm vi này có báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, sách báo, áp phích…; thông qua các phương tiện ấy một lượng thông tin văn hóa khổng lồ được chuyển tải tới mọi người. Siberinan 1981 gọi chúng là những truyền bá tập thể, tức là Media. Theo ông, trước khi tính đến giai đoạn Media, xã hội loài người đã trải qua giai đoạn văn hoá nói truyền miệng và sau đó là giai đoạn văn hóa viết mà đỉnh cao là kỹ thuật in. Kĩ thuật in vẫn giữ vai trò quan trọng giai đoạn Media, nhưng dần dần các Kỹ thuật truyền thanh và truyền hình ngày càng có vai trò nổi bật. Xã hội càng phát triển và càng tiến bộ thì con người càng chuyển sang trạng thái mới của xã hội hoá và cá nhân hoá một mặt người ta cảm thấy mình ngày càng hội nhập, gắn với cộng đồng, nhân loại Mọi việc xảy ra trên toàn cầu như chiến tranh, xung đột sắc tộc, ô nhiễm môi trường, thiên tai, nạn khủng bố… hầu như được tất cả mọi người chứng kiến và qua các phương tiện truyền thông cảm nhận được sự liên quan… Nhưng mặt khác, cũng lại do các phương tiện kỹ thuật truyền thông truyền thanh, truyền hình, điện thoại di động… mà chúng ta cảm thấy cuộc sống mỗi cá nhân ngày càng biệt lập chia tách hơn trước với xã hội, với cộng đồng. Theo Mom 1986 với kỹ thuật hiện đại, con người qua “giao tiếp công nghệ” gắn mình với các nguồn văn hoá theo sự lựa chọn riêng và hầu như sống ngoài xã hội sinh động. Nhưng đôi khi toàn thế giới có thể đạt tới từng độ cao, các Media có tính quần chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình… đã gây sức ép xã hội rất lớn đến mỗi cá nhân, thậm chí có thể xuyên tạc nhào nặn lại cả các thông tin trước khi cung cấp cho mọi người. Khi còn có bất công trong xã hội, các tổ chức độc quyền, lũng đoạn trong xã hội nắm các phương tiện này thì các cá nhân sẽ mất tính độc lập, tự chủ trong suy nghĩ và hành động do chịu ảnh hưởng ấy. Ngày nay nhân loại rất chú ý đến ảnh hưởng của truyền hình, nhất là đối với sự phát triển trí tuệ và nhân cách của trẻ em. Như vậy là các Media có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống cá nhân, với sự phát triển của văn hoá giáo dục nói chung. Trong xã hội hiện đại, chính các Media chuyển tải các nội dung văn hoá và tạo ra cái gọi là “văn hoá quần chúng”, ảnh hưởng tới sự phát triển chung. Giao tiếp không lời Nonverbal Communication cũng có tác dụng quan trọng. Đó là sự giao tiếp bằng các cử chỉ, các biểu hiện của cơ thể của con người. Trong quá trình giao tiếp, sự vận động của cơ thể có chức năng truyền đạt các nội dung thông tin, đồng thời biểu lộ các sắc thái xúc cảm, tình cảm của con người từ các phía giao tiếp với nhau. Các dân tộc bán khai thiên về lối giao tiếp không lời. Trong các công trình nghiên cứu gần đây người ta cũng thấy ở các dân tộc với các nền vần hóa khác nhau cũng đều có những biểu lộ xúc cảm yêu thương, giận dữ, buồn bã, sợ hãi…, tuy mức độ và cách biểu hiện có khác nhau người châu Âu, châu Phi biểu lộ tình cảm sôi nổi trái lại người châu Á kín đáo, ít biểu lộ tình cảm ở nơi công cộng. Trong công trình nghiên cứu giao tiếp của Birdwhistell, tác giả này đã giả định là những tư thế, cử chỉ trong giao tiếp không lời là kết quả của sự lựa chọn tự nhiên – nhưng các cử chỉ này tự nó không có ý nghĩa gì, mà chúng chỉ trở nên có ý nghĩa khi đặt trong mối tương tác giữa các cá nhân. Trong trường hợp này, văn hoá có vai trò rất quan trọng – bởi vì thông qua văn hóa, người ta lựa chọn từ hàng ngàn cử động của thân thể để tạo thành hệ thống giao tiếp văn hoá đúng với ý nghĩa của nó. 2. Tầm quan trọng của các kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống con người Trong cuộc sống, xây dựng được mối quan hệ với người khác là một nhu cầu có tính bắt buộc của con người. Một người bình thường bao giờ cũng mong muốn có quan hệ với người khác, nhất là khi có những nhu cầu riêng tư muốn được đáp ứng, thoả mãn qua việc tương giao, ảnh hưởng lẫn nhau. Sự thành công trong sự nghiệp, hạnh phúc gia đình, tình cảm bạn bè – tất cả đều tuỳ thuộc vào việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ giao tiếp với mọi người. Giao tiếp chính là khía cạnh đặc biệt nhất, là tiềm năng thể hiện niềm hân hoan, sự vui thích, hứng thú trong sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau tạo cho nhau sự ấm cúng, thúc đẩy mỗi người tự hoàn thiện mình trong mối tương giao với người khác. Tình bạn sâu sắc, đằm thắm trong cuộc sống đời thường, tuổi trẻ, quan hệ tình yêu… tạo ra sự hoà nhập với người khác giới – tất cả chính là các nhân tố thúc đẩy con người sống hoà hợp, gắn bó với nhau, cùng phấn đấu cho mục đích chung, làm cho cuộc sống có ý nghĩa và ngày càng đậm đà, phong phú hơn. Nói cụ thể hơn, cuộc sống của mỗi chúng ta có ngày càng hoàn chỉnh, phong phú, có ý nghĩa và ta cảm thấy thoả mãn hay không là tuỳ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ giữa ta và người khác; điều đó nói lên rằng trong cuộc sống của mỗi người, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc cá nhân đích thực thì phải tự khẳng định mình và thông qua các mối quan hệ với những người khác mà góp phần xây dựng hạnh phúc chung của toàn xã hội. Mối quan hệ giao tiếp giữa người và người, như trên đã nêu là rất thiết yếu đối với hạnh phúc cá nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau tương giao, quan hệ giúp chúng ta tích luỹ tri thức, hiểu thấu đáo về “thế thái nhân tình”; giao tiếp, hội nhập giúp ta hiểu rõ mình hơn, hình thành được phẩm chất nhân cách theo hướng tích cực và thuần phác, tạo ra sự hài hoà cân đối trong cuộc sống vật chất và tinh thần. Không thể hình dung sự phát triển nhân cách của mỗi người mà không có sự phát triển đồng thời các phẩm chất, năng lực của cá nhân với sự phát triển của người khác, bởi vì sự phát triển các mối tương quan này luôn luôn diễn ra song song, phụ thuộc lẫn nhau. Đặc biệt là đối với trẻ em; chúng cần được lớn lên, được nuôi dưỡng, săn sóc và giáo dục trong mối quan hệ với gia đình; nhà trường và xã hội – nhất là khi bắt đầu rời gia đình, vào học ở nhà trường. Ở đây, các mối quan hệ giao tiếp với bạn bè, với mọi người đột ngột được mở rộng. Sau này lớn lên khi đi làm, mối giao tiếp với xã hội, với những đống nghiệp của chúng ta càng ngày càng mở rộng và phức tạp hơn. Nhìn chung từ gia đình, các bạn bè cùng trang lứa, đồng nghiệp, thầy cô giáo mà con người lần lượt thu nhận, thể nghiệm được các hiểu biết, các kỹ năng, hình thành được khả năng mới, có thái độ rõ ràng, sâu sắc. Những điều này rất có ý nghĩa đối với sự phát triển nhân cách của bản thân. Cùng với thời gian, và sự trưởng thành, số lượng các quan hệ với những người mà chúng ta cần có quan hệ, giao tiếp ngày càng đông càng phức tạp thêm mãi. Điều này cũng có nghĩa là nhờ giao tiếp, và thông qua giao tiếp mà chúng ta xây dựng quan hệ lành mạnh với mọi người xung quanh. Sự tăng trưởng và phát triển của chúng ta về tri thức, về ý thức xã hội ở các mức độ nhất định được quyết định bởi tính chết của các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh và trên thực tế, bản sắc cá nhân của mỗi người được hình thành trong quá trình quan hệ giao tiếp với mọi người. Mỗi khi giao tiếp, tương tác với người khác, chúng ta có dịp quan sát, ghi nhận các phản ứng, các thái độ phản hồi của họ, nhờ đó mà biết cách tự tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá mình qua thái độ và cách nhìn nhận của họ đối với bản thân ta một cách sinh động, chân thực và khách quan khi được đánh giá cao, ta thiên về sự phấn đấu để xứng đáng như vậy. Chúng ta sẽ có dịp học hỏi những điều hay rút ra từ quan hệ giao tiếp với người khác, từ đó tự tin hơn, tự khẳng định được mình. Hơn thế nữa khi chúng ta tìm hiểu thế giới xung quanh – để có thể tin tưởng, phê phán cái gì là ảo tưởng cái gì là chân lý, một phần chúng ta cũng học hỏi, rút ra được từ trong các quan hệ giao tiếp mà củng cố nhận thức và cảm nghĩ của chính mình. Thậm chí cả khi chiêm ngưỡng một cảnh đẹp, ngâm một bài thơ, thưởng thức một áng văn, một tác phẩm nghệ thuật, để có thể kiểm chứng cảm nghĩ và kiến thức của mình, chúng ta đều cần phải trao đổi “thông tin” với người khác và tốt hơn cả là chia sẻ cách hiểu, cách cảm ấy thông qua quan hệ giao tiếp với mọi người. Ngay cả sức khoẻ và tâm lý của một người cũng cần được xây dựng trên mối quan hệ tương tác với những người khác. Theo Johnson 1980, khả năng xây dựng và duy trì các mối quan hệ hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau với những người khác thường được xem như là sự biểu lộ sơ khởi của sức khoẻ tâm lý. Một số người vì một vài lý do nào đó không thể xác định nổi mối quan hệ giao tiếp với mọi người, thường có thái độ lo âu, suy nghĩ, bất lực và cô đơn. Hầu như kỹ năng giao tiếp vụng về cũng là sự biểu lộ nguyên nhân của tâm bệnh ở người. Chúng ta, những người bình thường cần phải tham gia vào đời sống cộng đồng, và thông qua các quan hệ giao tiếp giao lưu trong đời sống ấy mà giữ lấy tâm hồn lành mạnh, tạo ra sự bình an trong cuộc sống. Các công trình nghiên cứu về xã hội học y học cho thấy nhiều bệnh trầm trọng như bệnh tim mạch, bệnh tâm thần… thường xảy ra nhiều hơn ở những người luôn luôn bị cô lập, bị ức chế về tâm lý và có cuộc sống cô đơn không bình thường. Chính “cuộc sống bình thường” mà chúng ta thường quan niệm đã được tạo ra nhờ mối giao tiếp với người khác và tạo cho chúng ta cơ hội để đáp ứng lẫn nhau, khẳng định nhau, trở thành con người có văn hoá, có sức khoẻ, có giá trị và “bình thường”. Với quan điểm hoà nhập, cởi mở hơn để xem xét mối quan hệ giao tiếp và tác dụng của nó, chúng ta khẳng định rằng sự tiến hoá và sự tồn tại – phát triển có ý nghĩa của loài người luôn luôn gắn chặt với khả năng con người đề xuất tạo lập và phát triển được mối quan hệ giao tiếp ổn định với mọi người. Theo con đường phát triển và tiến hoá, chúng ta được sinh ra, được nuôi dưỡng và phát triển trong quan hệ gắn bó với mọi người thước hết ở gia đình, được giáo dục bởi người khác về văn hoá – đạo đức, khoa học, ngôn ngữ…, được học và rèn luyện một cách sáng tạo theo khuôn mẫu các giá trị của xã hội, trong một nền văn hoá đích thực. Nền tảng của mọi nền văn minh và của mọi xã hội được sáng tạo, lưu truyền, phát triển thông qua khả năng loài người hợp tác với nhau, cùng phối hợp hành động để đạt tới mục tiêu chung. Xã hội càng phát triển càng trở nên phức tạp; ảnh hưởng tới đời sống xã hội của khoa học kỹ thuật càng mạnh mẽ thì vai trò của giao tiếp giữa người và người càng có ý nghĩa sâu sắc và mang tính nhân văn. Cho dù kinh tế phát triển, khoa học và công nghệ đem lại mức sống và lối sống cao đến đâu thì con người vẫn phải hợp tác, liên kết với nhau vì lợi ích, hạnh phúc chung, chia sẻ ngọt bùi, trao đổi với nhau về tài nguyên, về sản vật, hàng hoá và cùng nhau làm lụng mưu cầu hạnh phúc cho nhau vì một xã hội văn minh, hiện đại. Cái khó nhất ở đây là chúng ta phụ thuộc vào nhau khá chặt chẽ, cho nên lại cần trang bị cho nhau kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết trong giao tiếp hàng ngày. Trong một xã hội tốt đẹp thì phần đông con người và hoạt động của họ dường như dựa trên tình thương yêu đùm bọc, mến mộ nhau giữa người và người. Con người có bản chất là con người xã hội. Niềm hạnh phúc và sự hoàn thiện của mỗi chúng ta phụ thuộc khá nhiều vào khả năng xây dựng quan hệ tốt đẹp và biết giao tiếp với người khác một cách có định hướng, có hiệu quả. Nếu thật sự có tính nhân loại, có tính hướng thiện ở con người thì các tính đó trước hết phải thể hiện thông qua sự hội nhập vào các nền văn hoá của những con người, nhờ đó thể hiện được bản sắc, bản lĩnh người của mình, trước hết xuất phát từ việc giao tiếp và thông qua giao tiếp. Rất nhiều từ ngữ, thể hiện mối tương quan này, phản ánh tính chất của các quan hệ trong giao tiếp như lòng tử tế, lòng nhân từ, đức khoan dung, sự suy xét, tính dịu dàng, tình yêu sự thông cảm, sự quan tâm, sự đáp ứng, sự tế nhị trong quan hệ – tất cả vừa là đạo đức, vừa mang tính nhân đạo cao. Hướng vào việc xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, trước hết chúng ta phải xây dựng được quan hệ đoàn kết, gắn bó và hợp tác với nhau coi trọng vai trò của giao tiếp. B. CÁC QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ GIAO TIẾP Trước đây, trong một thời gian dài, giao tiếp chỉ được xem như là một phạm trù của triết học duy tâm nghiên cứu về hoạt động giao tiếp giữa người với người, qua đó cái “tôi” được biểu lộ ở người khác. Giao tiếp được nghiên cứu đầy đủ trong Chủ nghĩa hiện sinh của Iaxpecxơ Cáclơ 1883 – 1969 đại diện cho những người theo chủ nghĩa hiện sinh Đức. Ông là bác sĩ tâm thần, sau chuyển sang nghiên cứu triết học và theo chủ nghĩa nhân cách Pháp hiện nay. Về lịch sử, thuyết giao tiếp được hình thành để đối lập lại thuyết “khế ước xã hội” bắt nguồn từ phong trào khai sáng trào lưu chính trị xã hội chủ trương thay đổi xã hội hiện tại. Những người theo thuyết giao tiếp như Iaxpecxơ, O. Bonnốp, E. Muniê… nhấn mạnh rằng khế ước xã hội về cơ bản chỉ “là một sự thoả thuận, một sự hợp đồng trong đó những người tham gia bị hạn chế bởi những lời cam kết từ hai phía; họ chỉ tự giác và hiểu nhau dưới ánh sáng của các lời cam kết này, tức là một cách trừu tượng, không có cá tính” Từ điển Triết học. Khế ước – theo họ đó là một liên hệ dựa trên sự chia tách thực tế của những con người. Còn giao tiếp thì được xem là một sự lệ thuộc lẫn nhau được thiết lập một cách tự giác và đối lập lại khế ước. Biện pháp để xác lập sự giao tiếp là tranh luận và trong quá trình này, người ta thấy rõ ràng các tiêu chuẩn tư duy được mọi người thừa nhận lại chia tách họ ra, còn những điều làm họ gắn bó nhau lại là ở chỗ họ khác nhau mỗi người mỗi vẻ. “Mỗi người mỗi vẻ” thật ra là những điều sợ hãi, lo lắng và băn khoăn chủ quan được che đậy công phu, trong đó con người theo cách riêng của mình, rút cuộc lại chỉ thấy mình trên thực tế bị lệ thuộc vào một tập đoàn xã hội nhất định trong xã hội hiện tại. Do đó tranh luận chẳng qua là để làm rõ tính chất lệ thuộc ấy và học thuyết về giao tiếp phải tìm ra mối liên hệ có tính biện chứng giữa những “con người xã hội” với nhau. Hoạt động giao tiếp thật ra vốn tồn tại trong đời sống xã hội từ khi xã hội loài người xuất hiện. Trong các lễ hội, hoạt động giao lưu kinh tế, văn hoá các miền cổ đại La Mã, Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á…, các dân tộc đã có những giao lưu văn hoá còn được ghi nhận trong các văn vật, trong các truyền thuyết, trường ca cổ đại trường ca Iliát Ôđixê; Kinh thi, Trường ca Đam San…. Những hình thức giao lưu, giao tiếp về văn hoá, kinh tế gắn liền với trình độ văn minh và quá trình phát triển tiến bộ của xã hội loài người. Ngày nay, vận dụng triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng ta đi đầu nghiên cứu về giao tiếp tìm ra những yếu tố hợp lý để phát triển, tiếp cận với nhu cầu phát triển và tiến bộ của xã hội hiện nay. Tất nhiên chúng ta vừa gạt bỏ các định kiến hẹp hòi đối với việc nghiên cứu về giao tiếp trước đây nhưng mặt khác, vừa thừa nhận rằng nhiều tác giả ở thế kỉ 18 chủ trương làm thay đổi phong tục, tập quán, chính trị… bằng cách phổ biến cái thiện, chính nghĩa và khoa học. Đại diện cho họ là Vônte, Rútxô, Môngtextkiơ, Hécde, Letinh, Silơ, Gớt… Đây là phong trào có ảnh hưởng lớn đến các quan điểm xã hội ở Tây Âu hồi đó cho rằng giao tiếp giữa người và người là nhu cầu nảy sinh gắn liền với những điều kiện lịch sử phát triển của xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Những yếu tố như thời gian, không gian, các thể chế xã hội, phong tục tập quán trong một xã hội… luôn luôn quy định phạm vi mức độ của các hoạt động giao tiếp. Như vậy, cũng như hoạt động văn hoá, sự giao tiếp của con người luôn luôn mang tính chất lựa chọn, kế thừa và phát triển những thành tựu, tinh hoa của các thế hệ đi trước truyền lại và góp phần xây dựng nên nền văn hoá cũng như trình độ văn minh của một dân tộc, một quốc gia. Nghiên cứu về giao tiếp để lĩnh hội hết ý nghĩa, nội dung sâu xa của nó phải gắn liền với việc nghiên cứu về lịch sử văn hoá, về văn hoá học nói chung. II. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN A. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP Trong những lúc thức tỉnh, con người thường xuyên đang giao tiếp theo những cách khác nhau và trong những môi trường khác nhau, vừa gửi và vừa nhận các thông điệp. Người lớn sử dụng 42,1% tổng số thời gian giao tiếp bằng ngôn ngữ của mình cho việc lắng nghe, trong khi đó sử dụng 31,9% thời gian giao tiếp của mình cho việc nói. Chỉ có 15% thời gian giao tiếp của chúng ta dành cho việc đọc và 11% cho việc viết. Paul Tory Rankin, 1930. Hằng ngày, bạn có thể nói chuyện vôi các bạn bè của mình, lắng nghe các thành viên trong gia đình, nhận được các thư từ, quan sát và phản ứng với các cử chỉ, điệu bộ và nét mặt của những người khác, thậm chí tiếp tục các cuộc “trò chuyện” với bản thân mình. Bạn – giống như mọi người – là một con người giao tiếp. Mỗi ngày, tuỳ theo những khả năng của mình chúng ta nói, lắng nghe, viết, đọc suy nghĩ và giải thích các thông điệp. Không có những khả năng này thì chúng ta sẽ mất đi nhiều thứ mà loài người đã tạo ra cho chúng ta. Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không chủ định, có ý thức hay không ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người được diễn ra ở các mức độ trong con người intrapersonal, giữa con người với con người interpersonal và công cộng public. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, liên tục, bất thuận nghịch tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh. David K. Berlo, 1960. Giao tiếp trong con người xảy ra trong bản thân con người. Nó gồm các hoạt động như quá trình suy nghĩ tư duy, ra quyết định cá nhân và xác định khái niệm về bản thân. Giao tiếp giữa con người với con người là sự giao tiếp mà từ đó những người tham gia trao đổi các cảm xúc và tư tưởng với nhau. Các hình thức của giao tiếp giữa con người với con người là nói chuyện, phỏng vấn và thảo luận theo nhóm nhỏ. Giao tiếp công cộng có đặc điểm là một người nói gửi một thông điệp cho một đám đông thính giả. Giao tiếp công cộng có thể là trực tiếp như một thông điệp mặt đối mặt mà người nói chuyển tới một đám đông thính giả, hoặc là gián tiếp như một thông điệp nhận được thông qua một phương tiện truyền thông đại chúng như radio hay tivi. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động bởi vì nó thưởng xuyên ở trong trạng thái thay đổi. Vì thái độ, kì vọng, cảm xúc và tình cảm của các cá nhân đang giao tiếp thay đổi, nên bản chất của sự giao tiếp của họ cũng thay đổi. Giao tiếp là một quá trình liên tục bởi vì nó không dừng lại. Dù là đang ngủ hay thức dậy, mỗi chúng ta đều đang chế biến các tư tưởng và thông tin qua các giấc mơ, sự suy nghĩ và biểu cảm của chúng ta. Bộ não của chúng ta còn hoạt động thì chúng ta còn đang giao tiếp. Giao tiếp là một quá trình bất thuận nghịch không đảo ngược được. Một thông điệp vừa mới được gửi đi là nó không thể bị huỷ bỏ. Điều vừa mới được hé miệng ra, một cái nhìn thoáng qua đầy ý nghĩa vừa mới được ghi nhận, hay một lời nói đầy tức giận vừa trót thốt ra… đều không thể xóa bỏ được. Chúng ta có thể xin lỗi hay phủ nhận, nhưng điều đó không trừ khử được những gì đã xảy ra. Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại. Chúng ta thường xuyên tiếp xúc với người khác và với bản thân mình. Người khác phản ứng lại những lời nói và hành động của ta, và mỗi chúng ta cũng phản ứng lại lời nói và hành động của chính mình. Lần lượt, chúng ta phản ứng với những phản ứng đó. Như vậy là, một chu kì các hành động và phản ứng trở thành cơ sở cho sự giao tiếp của chúng ta. Quá trình giao tiếp đầy phức tạp này có tính chất ngữ cảnh, bởi vì một phần kinh nghiệm của cả nhân loại là rất lớn. Sự phức tạp của giao tiếp nói lên rằng, với tư cách là những người giao tiếp, chúng ta phát triển sự nhận thức và các kỹ xảo để hoạt động một cách có hiệu quả theo kinh nghiệm đó. Với tư cách là những người giao tiếp, chúng ta tham gia vào quá trình này của loài người cả trong lĩnh vực nghề nghiệp, lẫn cả trong lĩnh vực cuộc sống cá nhân của mình. Nội dung giao tiếp Con người trao đổi những gì với nhau trong quá trình giao tiếp? Giao tiếp có mặt trao đổi thông tin, thông điệp. Nội dung của các thông tin, thông điệp đó tạo thành nội dung giao tiếp. Giao tiếp của con người có những nội dung sau Các trí thức khoa học và đời sống. Chẳng hạn, giáo viên truyền thụ cho sinh viên những kiến thức chuyên môn; Cha mẹ bồi dưỡng cho trẻ thơ những hiểu biết về đời sống xã hội, tự nhiên… Các kỹ năng, kỹ xảo. Ví dụ, giáo viên dạy nghề truyền thụ cho học viên những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cụ thể trong quá trình đào tạo họ. Nội dung giao tiếp cũng có thể là con người bề ngoài, các đặc điểm tính cách của họ, cung cách hành vi của họ Chúng ta gặp bạn bè, người thân, chúng ta phấn khởi, vui mừng được trông thấy nhau, được ở bên nhau, “được thở hít chung một bầu không khí”. Công việc, nhiệm vụ, sự thực hiện và giải quyết các nhiệm vụ đó của cá nhân, nhóm hay tập thể cũng là một nội đung giao tiếp hàng ngày. Các cán bộ giảng dạy thảo luận về kế hoạch giảng dạy của năm học chẳng hạn, là một ví dụ về loại nội dung giao tiếp này. Quan hệ và quan hệ qua lại được thực hiện trong giao tiếp cũng là nội dung đặc biệt của giao tiếp, đem lại cho nó một bản sắc độc đáo, quyết định các phương tiện và cung cách giao tiếp. Toàn bộ hệ thống giao tiếp của cá nhân phụ thuộc vào chỗ các mối quan hệ qua lại đã được hình thành như thế nào. Tất cả những điều kể trên chỉ là những dấu hiệu đặc trưng riêng lẻ của nội dung giao tiếp. Các đề tài giao tiếp cụ thể ở mỗi người thì có nhiều và đề tài giao tiếp càng phong phú, đa dạng thì phạm vi giao tiếp của con người càng lớn, nhân cách của họ càng phong phú, súc tích. Các chức năng của giao tiếp. Trong cuộc sống con người, giao tiếp thực hiện các chức năng quan trọng. Đó là Tổ chức hoạt động phối hợp cùng nhau của con người. Con người luôn luôn cần có sự giúp đỡ của người khác. Họ luôn luôn sống, hoạt động bên cạnh những người khác và cùng với những người khác. Ngay từ đầu đã bộc lộ mối liên hệ duy vật giữa con người với nhau. Mối liên hệ này là do những nhu cầu và phương thức sản xuất quyết định. “Từ lúc đầu loài người đã phải đấu tranh với tự nhiên để sống còn, như chống thú dữ, chống mưa nắng… Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thể thắng nổi tự nhiên, không sống được” Hồ Chí Minh. Không có giao tiếp thì con người không thể trao đổi kinh nghiệm, thống nhất mục đích, phương pháp hành động được, do đó hoạt động phối hợp cùng nhau cũng không thể có được. Làm cho con người nhận thức được lẫn nhau Xem mục “Tri giác xã hội” ở Chương III. Hình thành và phát triển các mối quan hệ liên nhân cách. Đây là chức năng quan trọng và phức tạp nhất. Sự phân tích chức năng này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phức hợp không phải chỉ của Tâm lý học, Xã hội học, Đạo đức học, mà cả Kinh tế học nữa. Các quan hệ đồng chí bạn bè, hay ngược lại, thù địch, căm thù được hình thành như thế nào? Cơ chế tâm lý của các hiện tượng đó ra sao. Vai trò của chúng trong sự phát triển của cá nhân như thế nào? – Hai chức năng trên được thực hiện như thế nào phụ thuộc Vào những mối quan hệ được hình thành giữa những người giao tiếp với nhau. Xem mục “Quan hệ liên nhân cách” ở Chương III. – Trong hành động giao tiếp trực tiếp thực tế thì tất cả chức năng kể trên được thể hiện một cách thống nhất. Đồng thời chúng được thể hiện thế này hay thế kia đối với mỗi người tham gia giao tiếp theo những cách khác nhau. Ví dụ, đối với người này thì hành động giao tiếp được bộc lộ như là sự truyền tin, đối với người khác lại bộc lộ trong chức năng giải toả xúc cảm căng thẳng. Các chức năng tổ chức hoạt động phối hợp, tri giác lẫn nhau và quan hệ liên nhân cách cũng không giống nhau đối với những người tham gia giao tiếp. Đến đây chúng ta thấy rõ giao tiếp là một phương thức thể hiện của bản chất người, chính trong giao tiếp và chỉ thông qua giao tiếp bản chất người của chúng ta mới được thể hiện. Được hình thành trong quá trình lao động; giao tiếp là tiền đề tất yếu, quyết định sự nảy sinh –và phát triển của hình thái hoạt động tâm lý đặc trưng của con người – ý thức. Chức năng khởi đầu của ý thức con người là chức năng định hướng trong môi trường xung quanh con người, thiết lập mối liên hệ với các sự vật được lôi kéo và phạm vi hoạt động của họ, với những người khác. Cùng với ý thức, ngôn ngữ cũng là sản phẩm của giao tiếp, nó nảy sinh để đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của con người nhằm mục đích thống nhất các nỗ lực của mình và tác động qua lại có hiệu quả nhất. Giao tiếp là điều kiện tồn tại và là nhu cầu hữu cơ của con người. Khi mới ra đời, trẻ sơ sinh là một thực thể bất lực Nếu không được giao tiếp với người lớn, những người nuôi dưỡng, thì đứa trẻ không tồn tại được, càng không thể phát triển được. Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người. Sự không thoả mãn nhủ cầu này sẽ gây nên ở con người – thuộc bất kì lứa tuổi nào “những trải nghiệm tiêu cực, những sự lo âu, chờ đợi một cái gì không hay xảy ra mặc dù không có gì đe doạ họ cả”. Con người là nhu cầu quan trọng nhất của con người. Con người sẽ mất mát nhiều, nếu họ không thể so sánh. mình với người khác, không thể trao đổi những ý nghĩ của mình với ai, không thể hướng tới một ai được. Căm thù một ai đó còn tốt hơn sống cô độc… Sự thờ ơ, lãnh đạm, cũng như thái độ dửng dưng có khác nào như chết vậy” R. Noibert. B. CÁC CÁCH TIẾP CẬN HIỆN TƯỢNG GIAO TIẾP Phần trình bày ở trên đã cho thấy giao tiếp là một quá trình phức tạp, nhiều mặt, nhiều mức độ của sự tác động qua lại về mặt tâm lý – xã hội giữa con người với con người. Trong giao tiếp có các mặt trao đổi thông tin, tác động lẫn nhau, nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Do đó có nhiều cách tiếp cận đối với hiện tượng giao tiếp. Trước hết giao tiếp là một vấn đề của Tâm tý học tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội. Trong quá trình giao tiếp, con người có sự tiếp xúc tâm lý thực sự với nhau, hình thành các mối quan hệ và quan hệ liên nhân cách với nhau. Giao tiếp là một nhu cầu xã hội cơ bản của con người, là điều kiện của sự tồn tại và phát triển con người như là một nhân cách. Mặt cơ bản nhất của giao tiếp chính là nhu cầu về sự quan tâm, sự thiện chí, sự hiểu biết, cảm thông, tán đồng… nghĩa là nhu cầu về sự tiếp xúc tình cảm với người khác. Tất cả những vấn đề đó là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học. Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng đặc trưng của con người. Trong giao tiếp con người sử dụng cả ngôn ngữ nói lẫn ngôn ngữ viết và cả phương tiện tiếp cận ngôn ngữ giọng nói – paralanguage. Do vậy giao tiếp cũng được Ngôn ngữ học nghiên cứu, với các khía cạnh ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp của con người. Trao đổi thông tin là một mặt không thể thiếu được của giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp, con người gửi và nhận các thông điệp – thông tin với nhau. Các thông tin này được người gửi mã hoá và người nhận giải mã theo một hệ thống ký hiệu nhất định. Vì vậy, hiện tượng giao tiếp cũng được xem xét, khảo cứu từ góc độ của lý thuyết thông tin. Giao tiếp của con người diễn ra trong những môi trường văn hoá, trong những nền văn hoá nhất định. Trong mỗi nền văn hoá đó, con người sử dụng một thứ tiếng nhất định, một hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ nhất định để giao tiếp. Giữa các nền văn hoá khác nhau cũng có sự giao tiếp với nhau. Mặt khác, để phát triển những mối quan hệ giữa con người với con người một cách tốt đẹp, để sự giao tiếp của mỗi người có hiệu quả, cộng đồng cũng như mỗi cá nhân cũng cần phải có một văn hoá giao tiếp nhất định. Như thế, giao tiếp còn được tiếp cận từ góc độ Văn hoá học. Xã hội học cũng nghiên cứu hiện tượng giao tiếp ở góc độ đây là một hiện tượng mang bản chất xã hội và chức năng xã hội. Cuối cùng, giao tiếp cũng còn là đối tượng nghiên cứu của triết học, vì triết học là một khoa học bao trùm lên các khoa học, nó nghiên cứu các nguyên tắc tư tưởng, nguyên tắc phương pháp luận trong việc nghiên cữu giao tiếp như là một nhân tố của hoạt động sống của con người và một phương thức thể hiện của bản chất người. Tóm lại, giao tiếp không phải là đối tượng nghiên cứu của riêng một ngành khoa học nào cả. Với tính chất nhiều mặt, nhiều mức độ và phức tạp của mình, giao tiếp là một đối tượng khoa học liên ngành tâm lý học đại cương và tâm lý học xã hội, tâm lý học và xã hội học, tâm lý học và ngôn ngữ học, tâm lý học và lý thuyết thông tin III. CẤU TRÚC CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP A. MÔ HÌNH GIAO TIẾP Trong quá trình giao tiếp phức tạp của con người, để có thể nhận dạng được các bộ phận cấu thành của nó là vấn đề không đơn giản. Ngoài ra chúng ta còn phải hiểu cả sự ăn khớp những thành tố đó. Có một cách thông dụng để làm việc đó là xem xét quá trình giao tiếp thông qua một mô hình mà nó có thể minh hoạ được các nhân tố khác nhau có liên quan nhau như thế nào. Bất cứ một mô hình nào cũng phải đơn giản, hơn nữa, giao tiếp không có sự bắt đầu và kết thúc một cách rõ ràng mà một mô hình có thể gợi nên. Tuy vậy, mặc dù có những giới hạn này, các mô hình vẫn có thể giúp chúng ta thấy được các thành tố của giao tiếp một cách tổng quan, để có thể phân tích và hiểu được chúng. Mặc dầu có nhiều cách mô tả hành vi giao tiếp, chúng tôi chọn 3 cách để minh hoạ cho quá trình giao tiếp mô hình tuyến tính, mô hình tác động qua lại và mô hình giao dịch. 1. Mô hình tuyến tính về giao tiếp Công trình lý thuyết ban đầu về giao tiếp bằng ngôn ngữ đã được thở ra từ các nhà tu từ học La Mã và Hi Lạp cổ đại những người quan tâm đến việc đào tạo các nhà hùng biện một cách đúng đắn. Vì lý do này, các học thuyết ban đầu về giao tiếp đã nhấn mạnh đến vai trò của diễn giả trước quần chúng, chúng phản ánh cái có thể được gọi là quan điểm một chiều về giao tiếp, cho rằng một người có thể thực hiện những hành động nhất định theo một trình tự nhất định trong khi phát biểu và gợi ra những câu trả lời nhất định theo mong muốn từ phía thính giả. Điều này cớ thể được biểu đạt là mô hình tuyến tính một chiều về giao tiếp xem Theo mô hình này thì diễn giả mã hoá một thông điệp và gửi nó tới người nghe thông qua một hay nhiều kênh giác quan. Người nghe, sau đó, tiếp nhận và giải mã thông điệp này. Ví dụ, sau khi bạn mua một cái máy tính, bạn nghe thông điệp ghi ở trong băng của nhà sản xuất. Đĩa này giải thích cách nhét đĩa điều hành hệ thống và bật máy tính như thế nào. Khi bạn làm theo hướng dẫn đó và máy tính hoạt động thì quá trình giao tiếp đã thành công. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mặc dù thường là cần thiết, nhưng việc giao tiếp một chiều có hiệu quả hạn chế. Để minh hoạ điều này, ta hãy xét một ví dụ khác. Hùng người nói nói rằng “Xin hãy đặt quyển sách lên bàn”. Sau đó anh ta quay lại và ra khỏi phòng. Hoa người nghe có một giá sách trước mặt, nhưng không đoán chắc được là cuốn sách nào cần phải đặt lên bàn. Trong ví dụ này, Hùng đang tạo ra một sự thừa nhận khá thông thường. Rất nhiều người cho rằng nếu họ nói hoặc viết cái gì đó thì việc gửi thông điệp này là toàn bộ sự giao tiếp. Nhưng sự ngộ nhận theo một nguồn này đã “bỏ qua vai trò quan trọng của người nghe trong việc phúc đáp và do đó tác động đến người gửi và thông điệp để cung cấp sự phản hồi. Sự phản hồi này có thể cho phép người gửi kiểm tra để biết liệu cái mệnh lệnh có được hiểu không, cách giải quyết có được chấp nhận không, thông điệp có rõ ràng không, kênh có được mở không” Roy Berco, Andrew Wolvin and Ray Curtis, 1986. Bất cứ khi nào có thể thì những người giao tiếp cũng nên cố gắng giao tác với nhau để có thể phát hiện ra sự giao tiếp của họ thực sự có hiệu quả như thế nào. Ví dụ sự phân tích của Hùng về số hiệu của những cuốn sách sẵn có để chọn có lẽ đã dẫn đến kết luận rằng nó cần phải cụ thể hơn. Hơn nữa, nó có lẽ đã một câu hỏi như “Bạn có biết tôi muốn cuốn sách nào không?”. Hoặc anh ta có thể đợi cho đến khi Hoa đặt cuốn sách xuống để thấy rõ liệu cô ấy đã hiểu anh thưa? Nếu cô ấy không hiểu thì sau đó anh ta có thể sửa lỗi của mình bằng cách nêu cụ thể hơn trong cách hướng dẫn của mình. Khi không thể mở ra mối giao tác để phát hiện như phải có, chẳng hạn đối với người phát tin trên đài phát thanh hoặc vô tuyến, phóng viên báo chí và tác giả các cuốn sách, thì cần phải lưu ý đặc biệt đến việc phân tích trước về thính giả để người giao tiếp / nguồn có thể cố gắng sử dụng ngôn ngữ thích hợp nhất, cũng như làm rõ các ví dụ, làm sáng sủa các cấu trúc để tránh “tiếng ồn” trong giao tiếp. 2. Mô hình tác động qua lại về giao tiếp Mô hình tuyến tính về giao tiếp không tính đến mọi biến thiên, mọi đổi thay trong quá trình giao tiếp. Dĩ nhiên đây là một mô hình “người nói – người nghe” đơn giản. Vì nguyên nhân này, một số nhà khoa học ban đầu về hành vi, chịu ảnh hưởng của các nghiên cứu trong tâm lý học, đã mở rộng ý niệm về quá trình này thành cái mô tả sự liên hệ qua lại lớn hơn và chứng minh động lực, bản chất đang diễn ra của giao tiếp. Mô hình tác động qua lại về giao tiếp được trình bày ở Hình 2. Trong mô hình này thì nguồn mã hoá thông điệp và gửi nó tới người nhận thông qua một hay nhiều kênh giác quan. Người nhận tiếp nhận và giải mã thông điệp này như trong giao tiếp tuyến tính, nhưng sau đó có sự khác biệt lớn người nhận mã hoá phản hồi một phản ứng hay các phản ứng và gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quá trình trở thành hai chiều. Rồi sau đó, nguồn giải mã thông điệp phản hồi căn cứ theo thông điệp gốc đã được gửi và phản hồi đã được nhận, sau đó nguồn mã hoá một thông điệp mới thích ứng với phản hồi nhận được sự thích ứng. Ví dụ Hùng nói với Hoa “Xin hãy đưa cho tôi cuốn sách”. Hoa nhìn vào chồng sách ở trước mặt cô ta và nói “Quyển nào?” phản hồi. Hùng trả lời “Quyển đỏ trên đỉnh chồng sách” sự thích ứng. Quan điểm này về giao tiếp đã tính đến những ảnh hưởng của nhiều phúc đáp của người nhận. Quan điểm này cho rằng một quá trình, trong chừng mực nào đó, là vòng quanh gửi và nhận, gửi và nhận và cứ như thế tiếp tục… 3. Mô hình giao dịch về giao tiếp Bây giờ, một số nhà chuyên môn cho rằng việc giao tiếp không thể đơn giản quy rút lại thành một quá trình “kích thích và phản ứng” như là các mô hình tuyến tính và tác động qua lại đưa ra. Quan điểm này ủng hộ ý kiến cho rằng giao tiếp là một sự giao dịch mà trong đó nguồn và người nhận đóng những vai trò có thể hoán đổi được cho nhau trong suốt hoạt động giao tiếp. Như vậy là không dễ dàng xây dựng nên một mô hình thật rõ ràng, dứt khoát của quá trình Hình 3 minh hoạ một mô hình giao dịch về giao tiếp. Trong mô hình này, tiêu biểu cho những gì mà chúng ta biết cho đến giờ về giao tiếp là những thay đổi được phát hiện đồng thời trong cả hai người giao tiếp. Người giao tiếp A mã hoá một thông điệp và gửi nó đi. Người giao tiếp B, sau đó, mã hoá phản hôi gửi tới người giao tiếp A, người giải mã nó. Nhưng những bước này không phải là độc chiếm lẫn nhau vì việc mã hoá và giải mã có thể xảy ra đồng thời. Là những người nói, chúng ta có thể gửi một thông điệp phản hồi phi ngôn ngữ từ người nghe của chúng ta. Sự mã hoá và giải mã này có thể xảy ra liên tiếp trong suốt quá trình giao tiếp. Bởi vì chúng ta có thể gửi và nhận các thông điệp một lúc, nên mô hình này là đa hướng. Hãy chú ý rằng, một người không được gắn nhãn như là nguồn và người kia như là người nhận, thay vào đó cả hai người giao tiếp khoác lấy vai trò của người gửi và người nhận trong sự giao dịch chuyển đổi vai trò. Như vậy, mô hình này gần như đại diện cho việc giao tiếp đồng thời. Hùng nguồn nói “Anh yêu em”; trong khi Hùng người nhận thì nhìn Hoa đi khỏi khi anh nói với cô ấy; trong khi Hoa nguồn đi khỏi chỗ Hùng; trong khi Hoa người nhận nghe thấy “Anh yêu em” trong khi Hoa nguồn dừng lại, quay đi, cau mày và nói “Em không chắc anh như vậy”; trong khi Hoa người nhận nhìn Hùng gật đầu và đi lại chỗ cô ta khi cô ta nói; trong khi Hùng người nhận nghe thấy những lời cô ta; trong khi Hùng nguồn gật đầu và đi lại chỗ cô ta khi cô ta nói. * So sánh các mô hình So sánh 3 mô hình này trong hành động sẽ cho ta hiểu chúng khác nhau như thế nào. Hãy bắt đầu với kịch bản sau Một người điều hành các quan hệ quần chúng của một công ty lớn trình bày một bài phát biểu trên vô tuyến từ phòng quay thông tin đại chúng của trụ sở chính, đến các nhân viên maketing ở các văn phòng khác nhau trên khắp cả nước. Đây là một ví dụ của mô hình về giao tiếp tuyến tính. Tiếp đến, người điều hành cũng trình bày giống như vậy tại phòng của ban lãnh đạo công ty. Cô ta nói chính xác theo bản thảo mà cô ta đã chuẩn bị, chẳng phải mất công tìm bất kì một phản hồi nào. Rồi theo bài phát biểu cô ta liệu có câu hỏi nào không? Một trong các thành viên của ban lãnh đạo hỏi một câu hỏi và câu đó được trả lời. Điều này chứng minh mô hình tác động qua lại về giao tiếp. Sau đó nhân viên bán hàng bước vào phòng. Người điều hành các quan hệ quần chúng bắt đầu nói. Khi cô ấy nói thì một người bán hàng hỏi một câu hỏi. Trong lúc câu hỏi đang được nêu ra, người nói gật đầu. Cô ấy, sau đó, đồng ý bằng lời với người bán hàng. Trong lúc chuyện này xảy ra, người bán hàng cũng gật đầu, chỉ báo rằng anh ta đã hiểu điều vừa được giải thích và nói “Tôi đã hiểu”. Đây là một ví dụ về một mô hình giao dịch hoán chuyển vai trò của giao tiếp. B. CÁC THÀNH TỐ CỦA HÀNH VI GIAO TIẾP Để hiểu rõ quá trình giao tiếp phức tạp, ta hãy xem xét chi tiết các thành tố của hành vi giao tiếp. 1. “Người giao tiếp / nguồn” và thông điệp Như được minh hoạ ở Hình 4 tr. 31, quá trình giao tiếp bắt đầu khi “người giao tiếp / nguồn” bị kích thích một cách có ý thức hay không có ý thức bởi một sự việc, một khách thể hay một ý tưởng nào đó. Xuất hiện nhu cầu gửi thông điệp đi sau khi đã dùng trí nhớ để tìm ra thứ “tiếng” ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ thích hợp để mã hoá thông điệp Các nhân tố như sự tri giác, các kỳ vọng, thái độ và trạng thái cơ thể đều có ảnh hưởng đến việc gửi thông điệp. Quá trình giao tiếp rất phức tạp, bởi vì nó mang tính chất ký hiệu, sử dụng một thứ “ngôn ngữ” nào đó để đại diện cho các khách thể và ý tưởng mà chúng ta đang giao tiếp. Không may, các ký hiệu có thể không được hiểu. Ví dụ, một kỹ sư hàng không phải lựa chọn thứ “tiếng” của mình một cách cẩn thận để nói cho một ai đó không am hiểu về nguyên tắc của vận tốc gió. Các từ ngữ quá chuyên sâu về mặt kỹ thuật có thể làm rối trí người giao tiếp – người nhận và làm cho họ không hiểu được. 2. Kênh Các thành tố của giao tiếp theo Berko, Wolvin và Wolvin Người giao tiếp / nguồn Người giao tiếp / người nhận 1. Những cảm nhận do ý tưởng 1. Những cảm nhận do kích thích hay nhu cầu giao tiếp gây nên hay nhu cầu giao tiếp gây nên 2. Lựa chọn cách truyền thông 2. Tiếp nhận ký hiệu mã dưới - Xem thêm -
Ôn thi Nhập Môn Khoa Học Giao Tiếp by 1. Chương 1 Khoa học giao tiếp và Hành vi giao 1. Giao tiếp và việc nghiên cứu giao a. giao tiếp là b. các mức độ giao c. Phân loại giao d. Chức năng giao 2. Vai trò của giao a. Giao tiếp là tiền đề cho sự phát triển sức b. Giao tiếp là điều kiện giúp cho con người hình thành, hoàn thiện nhân 3. Các quan điểm triết học về giao Câu hỏi ôn 1. giao tiếp có vai trò như thế nào trong đời sống con 2. Giao tiếp có vai trò như thế nào trong hình thành và phát triển của xã hội 2. Chương 2 Nội dung và hình thức giao Nội dung giao nội dung giao nghĩa và truyền đạt nghĩa trong giao Hình thức giao tiếp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC MẦM NON GIÁO TRÌNH Lưu hành nội bộ NHẬP MÔN KHOA HỌC GIAO TIẾP Dùng cho sinh viên ngành ĐH GD Tiểu học Tác giả HOÀNG THỊ TƯỜNG VI Năm 2016 1 MỤC LỤC Trang CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC GIAO TIẾP ..................................3 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KHOA HỌC GIAO TIẾP .......................................................................................................................................4 GIAO TIẾP - KHÁI NIỆM VÀ CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN..............................................5 CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ GIAO TIẾP .......................................................................7 PHÂN LOẠI GIAO TIẾP ................................................................................................9 HÀNH VI GIAO TIẾP ...................................................................................................11 CHƯƠNG 2 BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA GIAO TIẾP .............................................................19 GIAO TIẾP NHƯ MỘT QUÁ TRÌNH TRAO ĐỔI THÔNG TIN ..................................19 NHẬN THỨC TRONG GIAO TIẾP ..............................................................................20 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP ........................................................26 NỘI DUNG GIAO TIẾP ................................................................................................26 HÌNH THỨC GIAO TIẾP..............................................................................................27 KHOẢNG CÁCH TRONG GIAO TIẾP.........................................................................34 CHIỀU TRUYỀN THÔNG ............................................................................................36 CHƯƠNG 4 CÁC KỸ NĂNG GIAO TIẾP.............................................................................38 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN KHI TIẾN HÀNH GIAO TIẾP ...............................................38 TỰ NHẬN THỨC VỀ BẢN THÂN VÀ SỰ CỞI MỞ TRONG GIAO TIẾP..................39 CÁC NGUYÊN TẮC TRONG GIAO TIẾP ...................................................................43 CÁC KỸ NĂNG GIAO TIẾP.........................................................................................45 CHƯƠNG 5 ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT....................................................38 ĐẶC ĐIỂM VỀ THÁI ĐỘ GIAO TIẾP .........................................................................52 ĐẶC ĐIỂM VỀ QUAN HỆ GIAO TIẾP ........................................................................54 ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁCH THỨC, NGHI THỨC GIAO TIẾP............................................54 TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................57 LỜI NÓI ĐẦU 2 Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập tại Trường Đại học Quảng Bình, chúng tôi biên soạn Bài giảng Nhập môn khoa học giao tiếp cho đối tượng là sinh viên Đại học Giáo dục Tiểu học hệ chính quy. Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi sai sót, rất mong quý đọc giả và sinh viên góp ý để giáo trình ngày càng hoàn thiện. Tác giả CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC GIAO TIẾP 3 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KHOA HỌC GIAO TIẾP Đối tượng nghiên cứu của khoa học giao tiếp Khoa học giao tiếp nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây - Bản chất, đặc điểm của quá trình giao tiếp - Nội dung và hình thức giao tiếp - Các hiện tượng tâm lý và tâm lý xã hội diễn ra trong giao tiếp, trong đó chủ yếu là các qúa trình trao đổi thông tin, nhận thức, cảm xúc và ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề này, môn học khoa học giao tiếp giúp chúng ta nâng cao văn hoá giao tiếp, ứng xử của bản thân và là tiền đề cho sự thành đạt của chúng ta trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp. Nhiệm vụ của khoa học giao tiếp Nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về giao tiếp và ứng xử theo truyền thống dân tộc và thông lệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể - Nghiên cứu đặc điểm, bản chất xã hội của giao tiếp - Nghiên cứu những khía cạnh của quá trình giao tiếp truyền thông, nhận thức và ảnh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp. - Rút ra được các cách tạo ra ấn tượng ban đầu trong quá trình giao tiếp. - Từ đó cung cấp những kết quả nghiên cứu để hoàn thiện các hoạt động giao tiếp. Các phương pháp nghiên cứu a. Các nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu - Đảm bảo tính khách quan Nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo đúng bản chất của chúng, không suy diễn, phán đoán, áp đặt theo ý muốn chủ quan. Tuy nhiên không loại trừ ý kiến, kết luận của các nhà chuyên môn trên cơ sở vốn tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm của họ. - Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác Nghiên cứu sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác trong mối quan hệ nhân quả, tác động lẫn nhau. - Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển Các sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển, biến đổi không ngừng. Do vậy chúng ta cần nghiên cứu sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng - Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể toàn vẹn Mỗi sự vật, hiện tượng đều có một cấu trúc nhất định, được cấu tạo bởi các yếu tố cấu thành. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng cần đặt chúng vào trong một chỉnh thể toàn vẹn b. Các phương pháp nghiên cứu * Phương pháp quan sát Quan sát là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng bằng cách tri giác trực tiếp đối tượng để thu thập tài liệu dữ kiện cần nghiên cứu. + Những yêu cầu khi tiến hành phương pháp này 4 - Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ quan sát - Phải trạng bị lý luận trước khi quan sát - Tiến hành trong điều kiện thuận lợi - Tiến hành quan sát, thu thập thông tin, ghi chép, xử lý thông tin để rút ra kết luận - Kiểm tra kết quả bằng các phương pháp khác * Phương pháp phân tích tài liệu Phương pháp phân tích tài liệu được ứng dụng trong nghiên cứu giao tiếp giữa người và người, đặc biệt là nghiên cứu nội dung thông tin của tài liệu như nghiên cứu khía cạnh thông tin giữa các chủ thể giao tiếp, các nét tính cách của người truyền tin, người nhận tin... * Phương pháp trắc nghiệm Trắc nghiệm là một pháp thử để đo lường tâm lý đã được chuẩn hoá trên một số lượng người. Đây là phương pháp dùng để đo lường các mối quan hệ giữa các cá nhân trong nhóm, mối quan hệ liên nhân cách, mối quan hệ cảm xúc, mối quan hệ tập thể. * Phương pháp thực nghiệm Phương pháp thực nghiệm là phương thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng cũng như chất lượng của đối tượng nghiên cứu trên cơ sở nhà khoa học tác động những tác nhân trong điều kiện có sự khống chế * Phương pháp đàm thoại Đó là cách đặt ra câu hỏi cho đối tượng và dựa vào câu trả lời của họ để thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu. * Các yêu cầu khi tiến hành phương pháp này - Xác định rõ mục đích, yêu cầu - Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng - Trong quá trình đàm thoại, nhà nghiên cứu cần định hướng đúng thông tin cần trao đổi. * Phương pháp điều tra bằng Anket Điều tra bằng Anket là phương pháp nhà nghiên cứu sử dụng một hệ thống câu hỏi đặt ra đối với một số đối tượng nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó. - Có 2 loại Ankét Ankét đóng và Ankét mở - Những yêu cầu khi tiến hành phương pháp này + Số lượng câu hỏi điều tra phải nhiều + Giữa các câu hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. + Kết quả điều tra phải được xử lý nghiêm túc GIAO TIẾP - KHÁI NIỆM VÀ CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN Khái niệm giao tiếp Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lys giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về mặt thông tin, tri giác,cảm xúc, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. 5 Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp - Tính xã hội của giao tiếp Giao tiếp là một hiện tượng xã hội, một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ riêng con người mới có giao tiếp thực sự và được thể hiện chỉ trong xã hội loài người. Trong thế giới động vật không có giao tiếp, không có các quan hệ mang tính chuẩn mực mà chỉ có liên hệ mang tính bầy đàn nhằm thực hiện những nhu cầu mang tính sinh học. Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa các cá nhân với nhau và giao tiếp là điều kiện để tiến hành các hoạt động chung của các cá nhân. Qua giao tiếp sự trao đổi tiếp xúc người - người làm nảy sinh hình thành các chuẩn mực giá trị xã hội và đáp ứng mục đích - nhu cầu cá nhân và nhóm của xã hội nói chung. - Tính lịch sử của giao tiếp Giao tiếp giữa các cá nhân bao giờ cũng mang tính chất lịch sử phát triển xã hội loài người, bởi lẽ giao tiếp có nội dung cụ thể được diễn ra trong một không gian, thời gian với các đối tượng cụ thể, một hoàn cảnh xã hội nhất định. Mỗi giai đoạn lịch sử đều mang dấu ấn của một dạng giao tiếp điển hình. Các phương tiện sử dụng giao tiếp giữa các cá nhân chịu sự chi phối của sự phát triển xã hội đồng thời giao tiếp mang tính chủ thể. - Tính chủ thể của giao tiếp Giao tiếp bao giờ cũng được thực hiện bởi những cá nhân cụ thể. Dù ở loại hình giao tiếp nào, nội dung giao tiếp gì cũng đều do những cá nhân thực hiện. Sự khác biệt của hoạt động giao tiếp với hoạt động khác ở chỗ trong hoạt động giao tiếp cá nhân vừa là chủ thể vừa là khách thể. Các cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp luôn luôn đổi chỗ vai trò chủ thể cho nhau và chi phối tác động lẫn nhau. Mức độ tác động phụ thuộc vào vị trí, vai trò xã hội cũng như một số đặc điểm tâm lý xã hội của mỗi cá nhân. - Tính nhận thức và tự nhận thức của giao tiếp Giao tiếp dù mang mục đích gì đi chăng nữa cũng đều diễn ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan và nhân sinh quan, nhu cầu nguyện vọng của người tham gia vào quá trình giao tiếp, chính thông qua sự trao đổi, chia sẻ thông tin mà con người tăng cường vốn kiến thức của mình, nhận thức về thế giới quan và về người khác, học hỏi kinh nghiệm từ người khác. Nhờ có đặc trưng này mà phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử của con người được nảy sinh và phát triển, cũng nhờ giao tiếp mà quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân được diễn ra. Cũng thông qua tiếp xúc với những người khác mà cá nhân nhận thức về mình một cách sâu sắc hơn. Những thông tin phản hồi từ người cùng giao tiếp, những hành vi ứng xử của họ trở thành tấm gương phản chiếu để cá nhân "soi" mình trong đó và nhận thức được về bản thân mình, từ đó xây dựng được bức tranh về chính bản thân mình khái niệm bản thân cùng với sự tồn tại của cá nhân khác trong nhóm, nhận thức được những mặt mạnh, mặt yếu, cũng như điều kiện và hoàn cảnh của mình. - Tính truyền cảm lây lan của giao tiếp Khi giao tiếp có sự lan truyền cảm xúc, tâm trạng đặc biệt với sự tham gia của các kênh giao tiếp phi ngôn ngữ như nét mặt, tư thế, giọng nói … Sự truyền cảm được thể 6 hiện rõ nét trong đồng cảm, ám thị. Chính điều này làm tăng tính sinh động, tính cảm xúc của quan hệ liên nhân cách. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ GIAO TIẾP Chức năng của giao tiếp Các chức năng cơ bản của giao tiếp được nhiều tài liệu đề cập tới, nhất là chức năng thông báo, chức năng phản ánh nhận thức và chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi, ngoài ra còn có tài liệu đề cập tới chức năng định hướng hoạt động. - Chức năng thông báo thông tin Trong giao tiếp các cá nhân thông báo cho nhau những thông tin. Nội dung thông báo có thể là những hiện tượng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, những vấn đề thời sự, những tri thức mới trong lĩnh vực khoa học. Nội dung thông tin có thể là suy nghĩ, tâm trạng, cảm xúc, thái độ. Trong quá trình giao tiếp người ta thông báo, biểu lộ cho người kia những suy nghĩ, ý tưởng của mình, nội dung thông tin vấn đề gì đó, biểu lộ thái độ của mình về vấn đề này như thế nào và đồng thời lại thu nhận được, biết được thái độ quan điểm, phản ứng của người đối thoại về vấn đề nào đó, sự việc nào đó. Sự thông báo, truyền thông tin bằng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, tư thế…. - Chức năng nhận thức Giao tiếp giúp con người nhận thức sự vật, sự việc, nhận thức về thế giới xung quanh, về người khác, về chính bản thân mình thông qua quá trình tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin. Giao tiếp giúp con người mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao các kiến thức kỹ năng của mình trong mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Khả năng nhận thức trong giao tiếp phụ thuộc vào khả năng huy động các cơ quan cảm giác để phản ánh miệng nói, tai nghe, óc phán đoán, suy nghĩ khái quát hóa, trừu tượng hóa các thông tin đã thu nhận được và đặc biệt phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm đời sống thực tiễn của cá nhân đó. - Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi Khi nhận thức được mục đích, nội dung và đối tượng giao tiếp cá nhân quyết định sử dụng cách thức nào, phương tiện giao tiếp nào để phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp. Mục tiêu của giao tiếp là làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của con người. Do vậy, có thể nói giao tiếp là quá trình điều khiển. Trước hết giao tiếp điều khiển chính bản thân chủ thể giao tiếp. Khi giao tiếp với người khác, cá nhân chủ thể phải lựa chọn điều chỉnh hành vi cử chỉ, điệu bộ… của mình sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, môi trường giao tiếp. Mặt khác, khi giao tiếp cá nhân phải ứng xử thế nào để làm cho đối tượng cùng nhận thức được, cùng cảm nhận được, hiểu được mình hiểu được nhu cầu, nguyện vọng, suy nghĩ của mình. Đó chính là điều khiển sự nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng theo mục đích của cá nhân mình. Trong quá trình giao tiếp các cá nhân nhận được những phản hồi từ người khác và từ đó điều chỉnh hành vi ứng xử của mình cho phù hợp với tình huống. Việc điều chỉnh 7 hành vi giúp các cá nhân thích nghi lẫn nhau, thích nghi hoàn cảnh, giúp cá nhân tự hoàn thiện phẩm chất và nhân cách của mình. Các chuẩn mực xã hội, các nguyên tắc nhóm thường được thể hiện trong giao tiếp nhóm, bởi vậy mỗi cá nhân thường được học hỏi hành vi và xã hội hóa chính bản thân mình. Một nhà tâm lý học Xô Viết đã phân chức năng của giao tiếp thành các chức năng cụ thể sau - Chức năng tiếp xúc Giao tiếp là nền tảng đặt quan hệ giữa người với người và giao tiếp tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận thông tin và trao đổi thông tin. - Chức năng thông báo Đó chính là quá trình trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc…giữa các chủ thể giao tiếp. - Chức năng thúc đẩy tính tích cực của các chủ thể cùng giao tiếp Trong quá trình giao tiếp các cá nhân không chỉ có trao đổi thông tin một cách thụ động mà giao tiếp còn thúc đẩy các cá nhân tích cực, chủ động trao đổi thông tin. - Chức năng phối hợp công tác Quá trình giao tiếp giúp các cá nhân định hướng, tìm hiểu lẩn nhau và đi đến sự nhất trí, cộng tác trong các hoạt động. Chức năng giúp các cá nhân nhận thức và hiểu biết lẫn nhau. - Chức năng biểu cảm Biểu lộ và trao đổi cảm xúc cho nhau trong quá trình giao tiếp. - Chức năng gây tác động đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân cách ảnh hưởng lẫn nhau làm thay đổi đến hành vi, tâm trạng và thái độ của nhau, cũng như các xu hướng nhân cách. Vai trò của giao tiếp a. Vai trò của giao tiếp trong đời sống con người và xã hội Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu được của con người, đó là nhu cầu muốn được tiếp xúc với người khác. Một nhu cầu mang tính người sâu đậm. Nhu cầu này là nhu cầu xuất hiện đầu tiên ở con người vì khi mới lọt lòng mẹ đứa trẻ có phản xạ rúc đầu vào bụng, vào ngực mẹ một mặt là muốn tìm vú mẹ nhưng mặt khác là muốn áp vào da thịt để được ôm ấp, vỗ về. Có thể nói mối quan hệ với người mẹ qua xúc giác là quan trọng bậc nhất của con người. Hiện tượng đó được gọi là sự gắn bó mẹ - con. Nếu vì một lý do nào đó con người không được thõa mãn nhu cầu này, thiếu đi mối quan hệ mối quan hệ thiêng liêng gắn bó thì sẽ gây nên ở con người dù bất kỳ lứa tuổi nào những trãi nghiệm tiêu cực, những lo âu chờ đợi cái gì đó không hay xảy ra mặc dù không có cái gì đe dọa họ cả nghĩa là đứa bé sẽ phát triển không bình thường, ngay cả khi sống đứa trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, làm tổn thương tâm lý đứa trẻ sau này. ở nước ta, một số bệnh viện phụ sản chủ trương thay vì nuôi trẻ đẻ thiếu tháng trong lồng kính bằng việc cho mẹ ấp ủ trong lòng. Kết quả là tỷ lệ sống và phát triển ở trẻ rất cao. Chúng ta có thể kết luận rằng vắng mẹ từ những ngày đầu mới ra đời là nỗi bất hạnh to lớn đối với trẻ em. Trong trường hợp bé bị tách ra khỏi mẹ sớm do bị chết, do bị ốm cần phải cách li hay do một lý 8 do nào khác, thì điều cần thiết là phải giúp cho trẻ tạo ra được mối quan hệ gắn bó mẹ con. Nhu cầu gắn bó lúc này cũng có thể được thõa mãn bởi người khác, miễn là người đó có lòng yêu thương, miễn là người đó có lòng yêu thương, sẵn sàng ôm ấp vỗ về như chính người mẹ của bé. Giao tiếp tạo ra cơ sở cho sự tồn tại của con người, giúp con người nhận thức và phát triển. Con người học làm người thông qua giao tiếp, nói cách khác giao tiếp là phương tiện để con người xã hội hóa thông qua giao lưu lao động và học tập. Giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý con người, nó là cơ sở để phân biệt giữa thế giới động vật và xã hội loài người, giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người và qua đó con người phát triển động cơ, mục đích, nguyện vọng, tình cảm. Nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là giao tiếp bởi vì xã hội không phải là con số cộng của các cá thể mà là mối quan hệ và sự tương tác của các thành viên trong xã hội thông qua hoạt động lao động và hoạt động giao tiếp. Không có sự giao lưu hợp tác giữa các cá nhân, các tổ chức, các quốc gia, xã hội loài người sẽ không phát triển. Chính giao tiếp giúp con người truyền đạt những kinh nghiệm, tri thức lịch sử xã hội từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Như vậy giao tiếp là để hợp tác và phát triển. b. Vai trò của giao tiếp trong công tác dạy học ở trường Tiểu học Yêu cầu sinh viên trao đổi và liên hệ thực tế hoạt động giao tiếp ở trường Tiểu học PHÂN LOẠI GIAO TIẾP Có nhiều cách phân loại giao tiếp dựa vào các tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào tính chất tiếp xúc - Giao tiếp trực tiếp Giao tiếp trực tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi trực tiếp giữa các chủ thể giao tiếp. Trong loại hình giao tiếp này các cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp một cách trực tiếp, đối thoại trực tiếp với nhau, mặt đối mặt, xảy ra trong cùng một khoảng thời gian và không gian nhất định, có sự tham gia của ngôn ngữ nói, viết, ngôn ngữ biểu cảm ngôn ngữ cơ thể ánh mắt, nét mặt, cử chỉ….loại giao tiếp này có tác dụng lớn với sự điều chỉnh hành vi, cử chỉ… của các chủ thể giao tiếp. - Các hình thức của giao tiếp trực tiếp bao gồm đối thoại và độc thoại. + Đối thoại là khi các cá nhân trò chuyện, phỏng vấn, bàn luận trao đổi trực tiếp với nhau. Trong hình thức giao tiếp này có sự thay đổi mối quan hệ chủ thể - khách thể, thay đổi vị trí của các cá nhân giao tiếp. + Độc thoại là khi chỉ có một người nói mà không có sự đáp lại của những người khác trong trường hợp diễn thuyết, giảng bài. - Giao tiếp gián tiếp Giao tiếp gián tiếp là giao tiếp thực hiện thông qua các phương tiện trung gian như ti vi, điện thoại, fax, … 9 Trong giao tiếp gián tiếp các cá nhân giao tiếp phụ thuộc vào phương tiện giao tiếp. Do không có hay ít có sự tham gia của kênh thông tin phi ngôn ngữ nên giao tiếp gián tiếp ít sinh động hơn so với giao tiếp trực tiếp. Căn cứ vào mục đích của giao tiếp - Giao tiếp chính thức Là hình thức giao tiếp diễn ra chính thức theo một lễ nghi nhất định nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể, cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp thường đại diện cho nhóm hoặc giữa các nhóm mang tính hình thức. Loại giao tiếp này thường có quy định nhất định về trang phục, địa điểm, nội dung - Giao tiếp không chính thức Là giao tiếp không mang tính hình thức, không chính thức do vậy không có quy định về lễ nghi, không yêu cầu cao về trang phục, địa điểm và cá nhân không đại diện cho ai, nhóm người nào. Hình thức giao tiếp này thường nhằm thỏa mãn nhu cầu tiếp xúc, giải trí của các cá nhân. Bầu không khí trong khi giao tiếp thường mang tính chất thân thiện, gần gũi có hiểu biết lẫn nhau. Căn cứ vào đối tượng tham gia quá trình giao tiếp - Giao tiếp song đôi Giao tiếp song đôi là giao tiếp trong đó chủ thể và đối tượng giao tiếp là hai cá nhân tiếp xúc với nhau. Loại giao tiếp này thể hiện rõ nhất trong giao tiếp thuộc quan hệ gia đình, vợ chồng, con cái, trong quan hệ bạn bè hay tình yêu đôi lứa Đây là hình thức giao tiếp giữa hai cá nhân, thường mang tính chất công việc diễn ra hàng ngày, nghi thức giao tiếp thường gần gũi, thân thiện. Loại giao tiếp này thường xuất hiện sớm ngay từ khi một đứa trẻ mới ra đời, là hình thức giao tiếp cơ bản của con người trong đời sống hàng ngày. Giao tiếp song đôi diễn ra nhanh gọn, dễ dàng, tiện lợi về hoàn cảnh, điạ điểm…. Hiệu quả của hình thức giao tiếp này thường cao do có sự tham gia của nhiều kênh thông tin và đặc biệt là sự phản hồi tức thời. - Giao tiếp nhóm Là giao tiếp giữa cá nhân với nhóm hoặc giữa các thành viên trong nhóm và ngoài nhóm với nhau các nhóm xã hội bao giờ cũng là tập hợp của những cá nhân có hoàn cảnh, mục đích, đề tài giao tiếp chung, do đó mức độ khăng khít phụ thuộc vào hoàn cảnh, cách thức và khuôn mẫu chuẩn mực nhóm…. Đây là hình thức giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm, giữa các nhóm với nhau nên nó liên quan đến nhiều người, thường có yêu cầu nhất định về thời gian, địa điểm, khung cảnh, nguyên tắc nhất định. Hạt nhân của giao tiếp nhóm là sự liên kết để tìm tiếng nói chung giữa các thành viên trong nhóm. Giao tiếp xã hội rộng lớn mang tính quốc gia, quốc tế giao tiếp giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế Hội đồng Liên hợp quốc, Hội khoa học kỹ thuật cũng là một dạng của giao tiếp nhóm nhưng là giao tiếp nhóm lớn. Loại giao tiếp này thường đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ, văn hóa, chuyên môn khoa học. Giao tiếp này đang có xu hướng phát triển nhanh hiện nay. 10 Giao tiếp nghề nghiệp Là loại giao tiếp mang tính đặc trưng của một nghề nhất định giao tiếp kinh doanh, giao tiếp sư phạm, giao tiếp báo chí…. Đặc điểm của loại giao tiếp nghề nghiệp được quy định bởi tính chất nghề nhất định. Nghề nghiệp ảnh hưởng tới tính cách, hành vi, cách ứng xử tư thế, trang phục của cá nhân. Nội dung thông tin cũng như cách sử dụng ngôn từ trong quá trình giao tiếp cũng chịu sự tác động của đặc trưng nghề nghiệp nhất định. Nghề nghiệp quy định lượng kiến thức trong lĩnh vực cụ thể, mặt khác nó cũng quy định tâm thế trong giao tiếp. HÀNH VI GIAO TIẾP Khái niệm Hành vi là sự cụ thể ra bên ngoài của hệ thống thái độ. Hệ thống hành vi rất đa dạng, phong phú chịu sự chi phối bởi hệ thống thái độ. Thái độ là mặt nội dung chủ đạo còn hành vi là hình thức biểu hiện. Thuật ngữ này dùng để nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu bởi theo các nhà nghiên cứu Mọi ứng xử đều là giao tiếp. Có nhiều dạng ứng xử khác nhau lời lẽ, cử chỉ, hành động. Do vậy, hành vi giao tiếp là hành động, cách ứng xử của con người trong giao tiếp Mô hình hành vi giao tiếp Giao tiếp là một đặc thù của con người và cũng là hiện thực tiêu biểu của hành ứng xử của con người. Có nhiều cách lý giải theo hành vi của con người. a. Thuyết hành vi Thuyết hành vi do nhà Tâm lý học người Mỹ Watson 1878 - 1985 sáng lập chuyên nghiên cứu hành vi biểu hiện của con người. Ông cho rằng Mọi ứng xử của cá nhân là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới và phản ứng đáp lại kích thích của cơ thể con người. Ông lý giải Hành vi là tổng thể phản ứng của cơ thể nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới. Hành vi ấy chính là con vật. Toàn bộ hành vi của con người được giới hạn bởi công thứcS R trong đó S là kích thích, R là phản ứng Quan điểm của Watson là quan điểm sai lầm vì không biết được "con người là chủ thể tích cực", mà ông chỉ biết rằng "con người là cá thể, thực thể sinh vật" Hành vi của con người hoàn toàn phụ thuộc vào kích thích, kích thích như thế nào thì phản ứng như thế ấy. Do đó vấn đề này cũng sai lầm và bế tắc bởi không nhất thiết bao giờ có kích thích A thì có phản ứng A vì có sự tham gia của ý thức. Skiner 1901 người kế tục và phát triển quan điểm của Watson thành hành vi tạo tác. Skiner cho rằng cần tính tới các yếu tố chủ quan như tư duy, ý thức của cá nhân trong mọi hành vi nhất định. Vì thế, theo ông không phải bất cứ tác nhân nào tới cá nhân đều tạo ra phản ứng và cùng một kiểu tác nhân kích thích có thể cho ta nhiều dạng đáp ứng trong những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên ông vẫn nhấn mạnh tính quyết định của yếu tố kích thích ngoại giới đối với bản chất của hành vi ứng xử. 11 Nhìn chung, những người theo thuyết hành vi xem xét hành vi ứng xử của con người trong mối quan hệ qua lại giữa môi trường với con người. Tác nhân kích thích của môi trường quy định tính chất, đặc điểm hành vi ứng xử. Mọi hành vi ứng xử là một chuỗi những phản ứng trước những thay đổi của môi trường, điều kiện bên ngoài. b. Lý thuyết liên hệ xã hội Thuyết này cho rằng con người sống trong mối liên hệ với môi trường, với người khác. Các mối liên hệ này chính là bản chất xã hội cá nhân và giao tiếp được xem là phương tiện để thiết lập các mối quan hệ. Dựa trên nền của hoạt động giao tiếp các cá nhân thực hiện hoạt động thông qua các hành động, thao tác để đạt một mục đích nhằm thoã mãn nhu cầu nào đó. Có thể biễu diễn sơ đồ của hoạt động có đối tượng như sau Nhu cầu Hoạt động Hành động Mục đích Thao tác Phương tiện Song hoạt động giao tiếp phức tạp bởi nó nằm trong mối quan hệ với người khác, cùng một môi trường giao tiếp nhưng tồn tại nhiều chủ thể giao tiếp khác nhau với nhu cầu khác nhau, mục đích khác nhau và cách thực thực hiện để đi đến mục đích khác nhau. Nhu cầu S1 Hoạt động Nhu cầu S2 Mục đích S1 Hành động Hành động S2 Phương tiện S1 Thao tác Phương tiện S2 Bởi vậy để giao tiếp có hiệu quả để tạo ra sự tin cậy, sự hợp tác của các chủ thể, mỗi chủ thể cần nắm bắt tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng của nhau để cùng điều chỉnh hành vi ứng xử phù hợp. Các thành tố của hành vi giao tiếp Vì những quan điểm khác nhau của những thuyết khác nhau mà người ta đưa ra những mô hình với những cấu thành khác nhau trong hoạt động và giao tiếp * Lý thuyết môi truờng xã hội nhấn mạnh yếu tố hoàn cảnh xã hội trong quá trình giao tiếp. Khi làm việc và giao tiếp, tất cả chúng ta tham gia vào một hoàn cảnh xã hội với những vị trí, vai trò xã hội khác nhau, nền văn hoá xã hội khác nhau. Do vậy yếu tố cấu thành gồm - Người gửi - Người nhận 12 - Thông tin * Theo lý thuyết thông tin thì giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, nhận biết tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người. Do đó, tham gia vào sự truyền thông tin của hoạt động giao tiếp bao gồm các yếu tố - Bộ phát hay còn gọi là nguồn, là người phát ra tín hiệu trong giao tiếp, người phát có thể là hai phía Con người tiến hành giao tiếp vì họ có thông tin và có cảm xúc muốn trao đổi với nhau. Quá trình trao đổi thông tin là quá trình hai chiều, trong đó một người gửi thông tin còn người kia nhận và sau đó “người nhận” đưa ra thông tin phản hồi ngược cho người gửi - Mã hoá là thông tin biến thành ký hiệu, lời nói hay chữ viết + Thông điệp phát bao gồm những nội dung muốn truyền đạt. Đây là mối quan hệ quan trong nhất trong giao tiếp truyền thông. + Thông điệp muốn truyền đạt có thể là ý tưởng cảm xúc hay là một thông tin nào đó mà người phát muốn nhận biết và hiểu cảm xúc. Thông điệp này được người phát mã hoá để chuyển đi + Thông điệp nhận là điều người nhận giải mã tạo cho nó một ý nghĩa - Kênh Là cách liên lạc giữa bộ phát và bộ thu Ví dụ kênh thính giác hoặc kênh thị giác - Giải mã Là quá trình hiểu bản tin của người nhận. - Bộ thu Người nhận thông điệp từ người khác hay còn gọi là thính giả hoặc người nghe - Đáp lại Là sự phản hồi thông tin ngược trở lại đến người gửi - Tiếng ồn Tiếng ồn còn gọi là độ nhiễu bao gồm môi trường truyền thông. Ví dụ Hai người đối thoại trực tiếp thì môi trường là không khí, tiếng ồn xe cộ, điện thoại. Ghi chú - Bộ phát và bộ thu là thành phần chính của giao tiếp tức là người nói và người nghe. - Thông điệp và kênh là các công cụ chính của giao tiếp - Mã hoá và giải mã, đáp lại và phản hồi 4 chức năng chính của giao tiếp. - Tiếng ồn là thành phần cuối của hệ thống. 13 Thông tin phản hồi Ý nghĩa Mã hoá Người phát Thông điệp Tiếp nhận Giải mã Người nhận Kênh Nhiễu Sơ đồ cho thấy, một người muốn chuyển một ý nghĩ, một sự kiện nào đó đến người nhận thì phải dùng trí nhớ để mã hóa thông điệp. Người nhận, trên cơ sở tiếp nhận các tín hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, xử lý chúng thông qua trí nhớ để các tín hiệu được phiên dịch và trở thành có ý nghĩa đối với người nhận. Kênh Khi giao tiếp thông điệp đã mã hóa được chuyển qua một kênh hay nhiều kênh. Nếu cuộc giao tiếp diễn ra trực tiếp mặt đối mặt thì các kênh có thể một vài hoặc năm giác quan. Điển hình là chúng ta dựa vào hình ảnh thị giác và âm thanh làm các kênh khi nói và nghe, tuy nhiên thay vì sự giao tiếp mặt đối mặt chúng ta có thể lựa chọn để dùng một kênh điện tử như điện thoại hay vô tuyến truyền hình, facebook thính giác, thị giác, trong một số trường hợp nào đó, chúng ta có thể lựa chọn cách gửi một thông điệp đến một ai đó bằng phương tiện tiếp xúc thân xác, chẳng hạn như vỗ vai người khác.. Người giao tiếp – người gửi nênluyeenj tập để có kỹ năng lưuaj chọn kênh giao tiếp, mỗi kênh giao tiếp đòi hỏi những phương pháp phát triển ý tưởng khác nhau và tác động khác nhau đến đối tượng giao hạn, việc chọn các kênh điện tử đã làm thay đổi bản chất của sự giao tiếp chính trị. Các ứng cử viên tổng thống các nước đã từng đi kinh lý khắp đất nước để đọc bài diễn văn trong các chiến dịch vận động tranh cử. Nhưng ngày nay, thông qua việc sử dụng vô tuyến truyền hình, họ có thể đến với một số lượng dân chúng rộng lớn mà không cần phải đi đâu cả. Vậy kênh điện tử đã thay thế cho kênh “mặt đối mặt”. Một khâu quan trọng trong mạch truyền thông là sự phản hồi, tức là người nhận phát tín hiệu trả lời người đã truyền đi bản thông điệp. Nó báo cho người phát biết thông điệp đã được tiếp nhận và được hiểu như thế nào. Trên cơ sở đó, người phát có thể điều chỉnh hoặc chuyển tiếp những thông điệp cần thiết khác. Môi trường. Giao tiếp không thể xảy ra trong chân không, nó luôn luôn tồn tại trong một ngữ cảnh nào đó, một môi trường nào đó. Nơi mà chúng ta hiện diện và người cùng hiện diện với chúng ta đều có sự ảnh hưởng đến sự giao tiếp của chúng ta. Những nhân tố như kích thích của căn phòng, màu sắc của tường, sự trang trí, kiểu và cách sắp xếp của các đồ gỗ, 14 kêir chiếu sáng và căn buồng có đông đúc hay không…đều có ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng ta cảm xúc ra sao, cách chúng ta tiếp xúc như thế nào… Như vậy, truyền thông giữa các cá nhân là một quá trình tương hỗ và tuần hoàn Hiệu quả của quá trình truyền thông còn bị chi phối bởi các yếu tố được gọi là "nhiễu". Đó là những yếu tố của người phát, người nhận hoặc trong môi trường gây cản trở đối với việc truyền tin. Thông thường các yếu tố đó bao gồm - Sự khác biệt về văn hoá - Môi trường truyền thông không tốt. Ví dụ tiếng ồn quá lớn, thời tiết quá nóng... - Ý không rõ ràng, quá trình mã hoá bị lỗi. Chẳng hạn, người nói sử dụng từ ngữ không chính xác, dùng từ địa phương. + Kênh truyền thông hoạt động không hiệu quả phát âm không chuẩn, độ nhạy cảm của giác quan kém, điện thoại trục trặc. - Các yếu tố tâm lý ở người phát và người nhận sự không tập trung, sự nóng vội, những định kiến, thành kiến, tâm trạng không tốt. Cho nên trong giao tiếp, chúng ta cần chú ý tới các yếu tố nhiễu và tìm cách loại bỏ hoặc hạn chế ảnh hưởng của chúng. Hoàn thiện quá trình giao tiếp giữa các cá nhân Quá trình giao tiếp có hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc vào người phát và người nhận. Theo các nhà Giao tiếp học , để nâng cao hiệu quả của quá trình, người phát và người nhận cần chú ý đến sáu vấn đề, được thể hiện trong sáu chữ Cái gì? tại sao? với ai? bao giờ? ở đâu? bằng cách nào? * Đối với người phát Khi đưa ra thông điệp, chẳng hạn bằng lời nói, người nói cần chú ý - Cái gì? tức là nói cái gì, nói vấn đề gì? Nhiều khi chúng ta lỡ lời, nói ra điều không nên nói, vẫn đề nào không nên và vấn đề nào không được nói ra. - Tại sao? tức là tại sao phải nói ra điều đó, nói điều đó nhằm mục đích gì? - Với ai? tức là cần tìm hiểu người nghe là ai. Ai ở đây không chỉ đơn giản là một cái tên, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay học vấn của người nghe mà còn bao gồm cả đặc điểm tâm lý của họ như tâm trạng, tình cảm, sở thích, nhu cầu, quan điểm, lập trường, tín ngưỡng, niềm tin, thói quen... Trong giao tiếp, chúng ta phải tìm hiểu đối tượng giao tiếp để từ đó có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp. Về vấn đề này, bằng cách này và với đối tượng nàychúng ta được hoan nghênh như với đối tượng khác không có nghĩa cũng sẽ như vậy - Khi nào? tức là đưa ra bản thông điệp vào thời điểm nào cho phù hợp. Một điều cần nói, nhưng nói ra khong đúng lúc thì trọng lượng của lời nói cũng giảm sút, thậm chí làm cho người nghe khó chịu. - Ở đâu, chú ý đến vấn đề này, người phát cần cân nhắc xem đưa ra bản thông điệp ở đâu, trong hoàn cảnh nào để đạt hiệu quả cao nhất. Việc chọn sai địa điểm có thể làm 15 giảm hiệu quả giao tiếp, thậm chí hoàn toàn không đạt mục đích mong muốn. Ví dụ. Bạn góp ý cho một người để mong họ tiến bộ, nhưng bạn lại làm điều đó trước mắt người thứ ba, vì thế người đó đã không tiếp nhận lời góp ý mà còn phản ứng lại một cách gay gắt. - Bằng cách nào? tức là cân nhắc xem truyền thông tin dưới hình thức nào, bằng cách nào cho hiệu quả. Một thông điệp có truyền đạt đến người nhận bằng nhiều cách khác nhau, nhưng hiệu quả thì không giống nhau. Vì vậy , chúng ta cần biết lựa chọn cách truyền thông tin tối ưu nhất. Ngoài ra, khi truyền tin, người phát cũng tạo tâm lý thoải mái, hào hứng ở người nhận, đồng thời phải theo dõi sự phản hồi để điều chỉnh quá trình truyền tin cho có hiệu quả. * Đối với nguời nhận Để tiếp nhận và giải mã thông điệp từ người phát một cách đầy đủ, chính xác, người nhận cần chú ý - Cái gì? tức là người nói đang nói cái gì, vấn đề gì?. - Tại sao? tức là tại sao người nói lại đề cập điều đó? - Ai? người nói là ai tâm trạng, tình cảm, sở thích, nhu cầu, quan điểm, lập trường, tín ngưỡng, niềm tin, thói quen... - Khi nào? người nói nói điều đó khi nào, ngay sau nhận được thông tin hay đã có sự cân nhắc, suy tính - Ở đâu? người nói đưa ra điều đó ở đâu, nơi nào, trong tình huống nào? - Bằng cách nào? người truyền thông điệp đi bằng cách nào, dưới hình thức nào? Cũng như người phát thường đặt mình vào vị trí người nhận để hiểu người nhận và từ đó định hướng, điều chỉnh quá trình truyền tin, người nhận cần đặt mình vào vị trí người phát để hiểu được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người phát, tại sao người phát lại đưa ra vấn đề đó...Ngoài ra người nhận cần gạt bỏ những mặc cảm, những thành kiến nếu có về người phát, vì nếu không, chúng làm cho người nhận giả mã thông điệp một cách sai lệch. Các quan hệ trong hành vi giao tiếp. a. Mối quan hệ trong giao tiếp. Chúng ta biết rằng Thông qua hoạt động của con người tiếp xúc với nhau để hình thành các mối quan hệ xã hội và mối quan hệ liên nhân cách. Để đáp ứng nhu cầu, các cá nhân tham gia vào hoạt động, nhưng hoạt động của người không bao giờ tồn tại một cách độc lập tuyệt đối mà nó còn liên quan đến hoạt động của người khác, đòi hỏi họ phải phân công hợp tác, phân công nhiệm vụ và vai trò trong hoạt động... Trong các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân có một vai trò nhất định đó là những chức năng xã hội của cá nhân, là vị trí các nhân trong hệ thống quan hệ xã hội khách quan, nó quy định phương thức hoạt động tương ứng, quy định những cách ứng xử của cá nhân mà người khác chờ đợi ở vai trò đó. 16 Cũng trong quá trình hoạt động và giao tiếp hình thành mối quan hệ tình cảm, tâm lý nghĩa là thông qua quá trình này hình trhành mối quan hệ liên nhân cách. Như vậy mối quan hệ liên nhân cách như là mối quan hệ hình thành từ bên trong các mối quan hệ xã hội. b. Vai trong giao tiếp. Theo lý thuyết vai xã hội thì "vai" vừa là chức năng của xã hội vừa là chức năng giao tiếp giữa người với người. Mỗi người có thể có nhiều vai. Cá nhân luôn xác định hành vi con nguời sao cho phù hợp với "vai" của mình trong nhóm xã hội. Hành vi của một người không chỉ phụ thuộc vào tính chất của kích thích mà còn phụ thuộc vào vai trò của cá nhân trong nhóm. Mỗi cá nhân có thể có nhiều vai trò. Phạm vi và số lượng khác nhau. Điều này phụ thuộc vào tính phong phú của các nhóm xã hội mà mỗi cá nhân tham gia vào, phụ thuộc vào các dạng hoạt động, mối quan hệ xã hội cũng như nhu cầu và vai trò tổ chức của người đó. Con người càng tích cực hoạt động bao nhiêu thì càng mở rộng giao tiếp bấy nhiêu, càng tích cực giao tiếp bao nhiêu thì càng tham gia hoạt động và tạo lập nên được nhiều mối quan hệ xã hội bấy nhiêu. Ví dụ trong gia đình vai của chúng ta là con nhưng khi ta ở cơ quan vai của ta là giám đốc. Sự nhập vai của một người vào nhóm xã hội phụ thuộc vào những yếu tố như trình độ, kiến thức, kinh nghiệm... của cá nhân. Trong giao tiếp mỗi cá nhân tham gia giao tiếp với nhiều cá nhân, với nhiều nhóm và ở mỗi nhóm khác nhau cá nhân thay đổi vai trò của mình, chính điều này tạo nên sự sinh động, đa dạng trong giao tiếp. Trong mỗi cá nhân có thể có nhiều vai trò, cùng một lúc sự mang vai trò kép này lấn át vai trò kia, tuỳ vào điều kiện, tư duy, hoàn cảnh của từng người. Tuy nhiên dù mang đa chức năng, hay vai trò kép ở mỗi cá nhân có một cách giao tiếp riêng đại diện cho "cái tôi của mình hoặc thiên về tư duy hoặc thiên về hành động cử chỉ, lời nói, hành vi. c. Mối quan hệ khách thể - chủ thể trong giao tiếp. Trong các hoạt động của con người nói chung bao giờ cũng tồn tại chủ thể khách thể, trong đó chủ thể là đối tượng tác động, còn khách thể là đối tượng nhận sự tác động. Khách thể tác động có thể là một vật thể, có thể là con người, nhóm người. Trong hoạt động lao động hướng tác động thường đi theo hướng chủ thể đến khách thể để tạo ra sản phẩm. Trong hoạt động giao tiếp chủ thể tác động là con người và khách thể tác động cũng là con người. Khách thể là những cá nhân với tính tích cực, những nét tính cách độc đáo đã tác động mạnh mẽ trở lại chủ thể. Các cặp "chủ thể, khách thể" với sự tác động hai chiều. Trong nhiều trường hợp của sự giao tiếp, sự truyền thông không phải là một chiều mà là hai chiều, người nghe và người nói luôn trao đổi vị trí cho nhau, các cá nhân tác 17 động qua lại lẫn nhau, tạo nên những biến đổi, thái độ tình cảm, tri thức và các biểu hiện xu hướng nhân cách của nhau. Mối quan hệ "chủ thể - chủ thể" này còn chịu sự chi phối bởi các "vai" trong giao tiếp. Chính điều này tạo ra sự bất bình đẳng của cấu trúc xã hội và nó được thể hiện rõ nét nhất trong giao tiếp. Câu hỏi ôn tập 1. Anh, chị hãy phân tích vai trò của giao tiếp trong đời sống con người và xã hội. 2. Hành vi giao tiếp bao gồm những thành tố nào? Tìm mối liên hệ giữa chúng? 3. Giao tiếp có những đặc trưng cơ bản nào? Anh chị hãy phân tích đặc trưng Tính xã hội của giao tiếp. 4. Thế nào là phương pháp quan sát? Anh chị hãy phân tích các yêu cầu khi tiến hành phương pháp này. 5. Vận dụng phương pháp quan sát để quan sát thái độ học tập của học sinh ở Trường Tiểu học. 18 CHƯƠNG 2 BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA GIAO TIẾP GIAO TIẾP NHƯ MỘT QUÁ TRÌNH TRAO ĐỔI THÔNG TIN Trong quá trình giao tiếp, tiếp xúc các cá nhân trao đổi, chia sẻ các suy nghĩ, ý tưởng, cảm xúc mà ta gọi là thông tin cho nhau. Chính bởi vậy lý thuyết điện tử cho rằng giao tiếp là quá trình truyền tin. Đối thoại Đây là hình thức giao tiếp mà sự truyền thông tin xảy ra trực tiếp giữa các đối tác tham gia vào quá trình giao tiếp. Thông tin ở đây được trao đổi chia sẻ và là thông tin hai chiều. Mạng giao tiếp Khái niệm mạng giao tiếp Mạng giao tiếp là tập hợp toàn bộ các kênh trong một nhóm có tổ chức theo thông tin được truyền đi. + Bavelas 1950 là người đầu tiên nghiên cứu thực hiện về mạng giao tiếp. Theo ông có 5 loại mạng giao tiếp sơ đồ. a b c d 19 e Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy - Mạng dây chuyền với kết cấu dọc có 5 cấp. Ở mạng này, thông tin được truyền theo chiều dọc từ dưới lên và từ trên xuống. Từ người lãnh đạo cao nhất đến cấp dưới thấp nhất và ngược lại, từ cấp dưới thấp nhất đến cấp trên cao nhất, thông tin phải truyền qua ba cấp trung gian. Vì vậy, về nguyên tắc, mạng này đảm bảo tính chính xác cao của thông tin vì qua nhiều lần kiểm tra, vai trò của từng cấp lãnh đạo cũng được thể hiện rõ, tuy nhiên, nó không tạo ra nhiều mối quan hệ và tốc độ truyền thông cũng chậm. - Ở mạng chữ Y, năm thành viên được phân ra thành bốn cấp một thành viên phụ trách hai thành viên khác, trên thành viên này còn có hai cấp nữa. Thông tin cũng được truyền theo chiều dọc, không có trao đổi thông tin theo chiều ngang. Do đó, về cơ bản, ưu điểm và nhược điểm của mạng này không khác mạng dây chuyền là bao. - Mạng bánh xe có hai cấp, bốn thành viên cấp dưới không có quan hệ truyền thông với nhau, thậm chí khôvng biết nhau. Tuy mạng này tạo ra ít mối quan hệ, tính chính xác của thông tin không cao vì chưa qua kiểm tra, nhưng tốc độ truyền thông nhanh, và rất cơ động, linh hoạt, hơn nữa vai trò của người lãnh đạo được thể hiện rõ. Cho nên mạng này rất quen thuộc với các công ty tắc xi, tổng đại lý với các đại lý... Ngoài ra, quá trình truyền thông còn đảm bảo tính bí mật. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà mạng này thường được áp dụng ở các tổ, nhóm tình báo hoạt động trong lòng địch. - Mạng vòng tròn cho phép mỗi thành viên có quan hệ truyền thông trực tiếp với hai thành viên gần mình nhất, với các thnàh viên còn lại thì phải gián tiếp qua hai người này. Truyền thông theo mạng vòng tròn có ưu điểm là thông tin chính xác, tốc độ truyền thông tương đối cao, tuy nhiên vai trò của người lãnh đạo cao nhất không được thể hiện rõ. - Ở mạng hình sao, mỗi thành viên đều có quan hệ truyền thông trực tiếp với tất cả các thành viên còn lại, nghĩa là quan hệ không bị hạn chế, tốc độ truyền thông nhanh, Tuy nhiên, vai trò của người lãnh đạo không được thể hiện rõ. Người ta thường so sánh mạng này với một hội đồng mà trong đó không có một người được bổ nhiệm chính thức hoặc tạm giữ vị trí chi phối, vì vậy, không khí ở đây là bình đẳng, dân chủ và mỗi thành viên của nó có thể tự do phát biểu ý kiến. Một mạng truyền thông tốt là mạng có tốc độ truyền thông nhanh, tốc độ chính xác cao, thể hiện quyền lực của người lãnh đạo và tạo ra nhiều mối quan hệ để thoã mãn các thành viên. Như vậy, không có mạng truyền thông nào là tốt nhất đối với mọi trường hợp này nhưng không phù hợp với trường hợp khác. Chính vì vậy, hiện nay ở nhiều tổ chức, người ta thường kết hợp nhiều loại mạng truyền thông. NHẬN THỨC TRONG GIAO TIẾP Trong giao tiếp xã hội chúng ta còn nhận thức, tìm hiểu người khác và nhận thức bản thân tự nhận thức, tức là xây dựng nên hình ảnh về đối tượng giao tiếp và về bản thân. Nhận thức đối tượng giao tiếp 20
Tài liệu "Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp" có mã là 546819, file định dạng doc, có 19 trang, dung lượng file 106 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Tài liệu chuyên ngành > Chuyên Ngành Xã Hội > Các Ngành Khác. Tài liệu thuộc loại ĐồngNội dung Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếpTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 19 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếpNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếpTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Đề cương hoàn chỉnh, hoặc là Đề cương hoàn chỉnh tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Đề cương hoàn chỉnh ôn thi, hoặc là Đề cương hoàn chỉnh ôn thi nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như De cuong hoan chinh, De cuong hoan chinh on, De cuong hoan chinh on thi, De cuong hoan chinh on thi Nhap, đều cho ra kết quả chính xác. tiếp môn ôn thi hoàn chỉnh cương Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập hoàn Đề cương hoàn chỉnh Đề cương Đề thi Đề cương hoàn Đề cương hoàn chỉnh ôn thi giao học Nhập Đề cương hoàn chỉnh ôn Đề cương khoa học giao tiếp ôn Nhập môn chỉnh khoa Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập môn khoa học giao tiếp" Tài liệu vừa xem Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Đề cương hoàn Đề cương Đề cương hoàn chỉnh ôn thi Nhập Đề cương hoàn chỉnh Đề cương hoàn chỉnh ôn
Ngày đăng 05/02/2021, 1333 TÀI LIỆU ÔN TẬP CHI TIẾT MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP, DÀNH CHO SINH VIÊN Y DƯỢC NÓI RIÊNG VÀ SINH VIÊN CÁC NGÀNH KHÁC NÓI CHUNG, GIÚP SINH VIÊN CÓ KIẾN THỨC TỐT ĐỂ ÔN TẬP MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP, HỌC TẬP VÀ THI TỐT BỘ 50 CÂU HỎI KIỂM TRA KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA BẠN Để truyền tải thông điệp giao tiếp trực tiếp hiệu quả, kênh sau chiếm vai trị quan trọng nhất? a Nội dung thơng điệp b Giọng nói c Hình ảnh cử Đáp án c Theo nghiên cứu khả tiếp nhận thông tin người, hiệu thông điệp truyền tải định 55% hình ảnh cử chỉ, 38% giọng nói có 7% nội dung thơng điệp -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Bạn cho biết định nghĩa sau mơ tả xác chất giao tiếp? a Giao tiếp tương tác trao đổi thông tin người nói người nghe b Giao tiếp mang tính chất thời điểm đối tượng giao tiếp tiếp xúc c Giao tiếp trình truyền tải thơng điệp cách xác từ người nói đến người nghe d Giao tiếp bao gồm tương tác người nói người nghe hoàn cảnh định e Giao tiếp trình truyền tải, chia sẻ thơng điệp từ người nói đến người nghe nhằm đảm bảo thông điệp truyền cách chuẩn xác nhất, tránh gây hiểu nhầm Đáp án e Giao tiếp q trình, khơng phải thời điểm nhằm truyền tải thông điệp từ người nói đến người nghe, thơng điệp q trình truyền tải phải bên tham gia hiểu xác tránh nhầm lẫn Theo bạn, hiệu suất lắng nghe trung bình người tham gia vào trình giao tiếp bao nhiêu? a 80% b 30% c 50% d 20% Đáp án b Lắng nghe bị chi phối nhiều yếu tố, kết nghiên cứu cho thấy, hiệu lắng nghe trung bình người trình giao tiếp đạt từ 25 – 30% Khi giao tiếp với nhau, theo bạn yếu tố sau ảnh hưởng lớn đến sai lệch thông điệp truyền tải? Hãy chọn đáp án đúng a Tiếng ồn giao tiếp b Tâm trạng thời điểm giao tiếp c Sự khác biệt ngơn ngữ văn hóa d Bộ lọc thơng tin người tham gia giao tiếp e Thiếu tự tin giao tiếp Đáp án c, d Sự khác biệt ngôn ngữ chủ thể giao tiếp khiến q trình truyền tải thơng điệp gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, lọc thơng tin người định thông tin chấp nhận Sự khác biệt ngôn ngữ lọc thông tin người định trình giao tiếp thành cơng hay thất bại Quy trình sau mô tả phương pháp giải xung đột giao tiếp cách hiệu hai đồng nghiệp bạn xung đột với nhau? a Lắng nghe – Đặt câu hỏi thu thập thông tin – Đưa giải pháp b Tách – Uống nước – Lắng nghe – Đặt câu hỏi – Đưa giải pháp c Đặt câu hỏi – Lắng nghe – Đưa giải pháp d Mời ngồi – Lắng nghe – Đưa giải pháp e Đặt câu hỏi – Đưa giải pháp – Cảm ơn -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Đáp án b Khi hai đồng nghiệp bạn xung đột, yếu tố khiến họ căng thẳng hình ảnh 55% Là người hịa giải, bạn cần tách hai người Tiếp theo bạn cần mời họ uống cốc nước lạnh nóng giận hạ nhiệt bắt đầu lắng nghe ý kiến người Hãy nhớ, bạn đặt câu hỏi để thu thập thơng tin tìm nguyên nhân xung đột Và cuối bạn đưa giải pháp để họ đưa giải pháp cho Lắng nghe nghe thấy hai khái niệm giống theo bạn hay sai? a Đúng b Sai Đáp án b Lắng nghe q trình địi hỏi chủ động, tập trung hiểu ý nghĩa thông điệp Nghe thấy q trình hồn tồn tự nhiên khơng địi hỏi nỗ lực Trong q trình giao tiếp, bạn có thời gian để gây ấn tượng tốt cho người khác? a 20 giây b phút c phút Đáp án a Khi giao tiếp, bạn có 20 giây để gây ấn tượng với đối tác qua trang phục, nét mặt cử Khi giao tiếp xã giao với phụ nữ, theo bạn người chủ động quyền bắt tay người kia? a Bạn b Phụ nữ Đáp án b Trong giao tiếp, bạn cần tuân thủ nguyên tắc ưu tiên dành cho phụ nữ Nếu bạn muốn bắt tay phụ nữ bạn cần đề nghị phép bạn có quyền bắt tay họ Theo bạn, kỹ giao tiếp tốt định thành công bạn công việc sống? a 20% b 50% c 85% d 70% Đáp án c Kết điều tra Viện xã hội Mỹ năm 2008 cho thấy, kỹ giao tiếp mối quan hệ bạn sống định 85% thành công công việc người Những yếu tố khác cấp, trí thơng minh chiếm 15% 10 Theo bạn yếu tố sau định đến thành cơng bạn q trình giao tiếp? Hãy chọn đáp án a Thông điệp truyền tải rõ ràng b Kỹ lắng nghe hiệu c Sự khéo léo xử lý tình giao tiếp -Phần mềm quản lý nhân SureHCS d Địa vị xã hội e Bằng cấp trình độ Đáp án a, b, c Hiệu trình giao tiếp định yếu tố khả truyền tải thông điệp, kỹ lắng nghe khéo léo ứng xử tình giao tiếp bạn Các yếu tố khác địa vị xã hội, trình độ hay cấp bạn góp phần tạo điệu kiện cho trình giao tiếp bạn thuận lợi 11 Cách tư sau giúp bạn thành cơng q trình giao tiếp? a Hãy đơn giản hóa vấn đề b Ln nhìn người khác với mắt tích cực c Xem người khác sai để trách d Ln xem học từ người khác giao tiếp để tốt Đáp án d Bạn cần tập cho thói quen tư biết cách học hỏi, rút kinh nghiệm từ người khác Hãy biến trải nghiệm người khác thành giúp phong cách giao tiếp bạn hồn thiện hàng ngày 12 Ba bí sau giúp bạn thành công, người khác yêu mến sống công việc? a Góp ý thẳng thắn, Lắng nghe Tơn trọng b Luôn tươi cười, Học cách khen ngợi, Lắng nghe c Đặt câu hỏi, Giúp đỡ nhiệt tình, Phê bình có sai sót Đáp án b Trong sống công việc, mong muốn nhận nụ cười, câu khen ngợi lắng nghe chia sẻ Để đồng nghiệp yêu mến, bạn rèn luyện thói quen ln tươi cười, khen ngợi chân thành lắng nghe giao tiếp 13 Đáp án sau mô chuẩn xác quy trình lắng nghe giao tiếp? a Tập trung – Tham dự - Hiểu – Ghi nhớ - Hồi đáp – Phát triển b Tập trung – Hiểu – Hồi đáp c Tập trung – Hiểu – Tham dự - Hồi đáp – Phát triển d Tập trung – Quan sát – Hiểu – Hồi đáp – Tham dự Đáp án a Lắng nghe chu trình khép kin gồm bước bản tập trung, tham dự, thấu hiểu, ghi nhớ, hồi đáp phát triển câu chuyện 14 Theo bạn đâu tư ngồi thể bạn người lắng nghe chuyên nghiệp? a Mắt nhìn thẳng, lưng tựa vào ghế, chân vắt chéo b Mắt nhìn thẳng, người ngả phía trước c Mắt nhìn thẳng, tay để bàn d Mắt nhìn thẳng, Người hướng phía trước, tay để bàn, đầu gật theo lời kể Đáp án d Một người lắng nghe chuyên nghiệp giao tiếp phải có tư thếmắt nhìn thẳng vào đối tác, để người hướng phía trước thể hứng thú, tay nên để bàn đầu gật theo nhịp kể người giao tiếp -Phần mềm quản lý nhân SureHCS 15 Ấn tượng bạn ghi điểm với người giao tiếp với yếu tố sau đây? a Dáng điệu, cử trang phục b Cách nói chuyện hài hước c Lời chào thân d Cách mở đầu câu chuyện bạn Đáp án a Người xưa nói “Nhất dáng nhì da thứ ba nét mặt”, dáng điệu cử yếu tố tác động đến người giao tiếp với bạn Khi giao tiếp bạn cần chuẩn bị tác phong chững trạc, dáng thẳng, cử chuẩn mực, trang phục lịch để tạo ấn tượng tốt với đối tác 16 Kỹ lắng nghe hiệu giúp bạn điều trình giao tiếp? a Chủ động giao tiếp b Khiến người nghe nghĩ bạn hiểu họ nói c Giúp bạn thấu hiểu thơng điệp cách trọn vẹn d Giúp bạn gây ấn tượng với người nhờ kiến thức sâu rộng Đáp án c Mục đích lắng nghe thấu hiểu Khi bạn có kỹ lắng nghe tốt giúp bạn thấu hiểu thông điệp truyền tải từ người nói trọn vẹn 17 Tại việc đưa ý kiến phản hồi giao tiếp lại quan trọng? a Giúp người tham gia giao tiếp chấp thuận bác bỏ thơng điệp b Nó cho phép người gửi xác nhận thơng điệp rõ c Những người làm việc với số cần thơng tin xác d Đó q trình đánh giá giúp người nói kiểm chứng xem người nghe có lắng nghe nói hay khơng Đáp án a Nhiều giao tiếp thất bại khơng có phản hồi khiến chủ thể giao tiếp khơng có đủ thơng tin định Khi phản hồi bạn giúp người nghe có sở để đồng ý hay bác bỏ thông điệp 18 Giao tiếp không hiệu dẫn đến hậu nào? a Xảy hiểu nhầm b Mọi người không lắng nghe c Người nói khơng thể đưa dẫn rõ ràng d Mọi người không làm theo bạn Đáp án a Khi bạn giao tiếp không hiệu quả, bạn dễ hiểu nhầm thơng điệp mà người khác muối nói với bạn, điều dẫn đến xung đột người tham gia giao tiếp 19 Áp dụng kỹ giao tiếp hiệu mang lại cho bạn lợi ích gì? Hãy chọn đáp án a Các dẫn đưa rõ ràng, dễ hiểu dễ theo dõi b Hiểu thông tin quan trọng truyền tải c Giao tiếp ngôn ngữ thể d Lắng nghe hiểu -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Đáp án a, b, d Giao tiếp hiệu giúp bạn đưa dẫn rõ dàng, dễ hiểu, thông tin quan trọng truyền tải thông suốt bạn hiểu ngơn ngữ khơng lời phát từ người nói 20 Xác định yếu tố quan trọng giao tiếp giúp bạn giao tiếp hiệu nào? a Tạo, thấu hiểu, chia sẻ cảm xúc qua thông điệp, phản hồi thơng điệp cách tích cực đồng thời nhận biết yếu tố gây nhiễu b Giúp bạn tiết kiệm thời gian giao tiếp c Giúp giao tiếp dễ dàng d Lắng nghe hiệu Đáp án a Khi bạn xác định yếu tố quan trọng giao tiếp giúp bạn tạo thông điệp rõ ràng, biết cách thấu hiểu chia sẻ cảm xúc qua thơng điệp, biết cách phản hồi thông điệp theo hướng tích cực đồng thời nhận thức yếu tố gây nhiễu để tìm giải pháp giao tiếp hiệu Câu 21 Để tạo thông điệp hiệu quả, bạn làm theo hướng dẫn sau đây? a Sử dụng biệt ngữ từ địa phương b Dùng ngơn từ khó hiểu c Sử dụng tiếng lóng d Lựa chọn từ phù hợp, dễ hiểu Đáp án d Một thông điệp hiệu phải đảm bảo dễ hiểu, rõ ràng nhằm tạo thuận lợi cho người tiếp nhận Bởi tạo thông điệp giao tiếp bạn nên chọn ngôn từ phù hợp dễ hiểu với người nghe Câu 22 Giao tiếp cơng việc nơi cơng sở thường khơng sử dụng hình thức sau đây? a Giao tiếp điện thoại b Giao tiếp qua email c Giao tiếp trực tiếp d Giao tiếp văn e Giao tiếp fax Đáp án e Trong công sở, giao tiếp qua fax hình thức phổ biến Hình thức giao tiếp qua fax thay dần email Câu 23 Tại giao tiếp bạn nên tập trung vào ngôn ngữ hành vi biểu thể? a Cử hành vi truyền đạt thơng điệp quan trọng b Rất thông điệp truyền đạt qua hành vi c Ngôn ngữ hành vi thường khó hiểu d Ngơn ngữ hành vi phụ thuộc vào văn hóa Đáp án a Trong q trình giao tiếp, ngơn ngữ phi ngơn từ cử chỉ, hành vi… chiếm 55% hiệu thông điệp truyền tải -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Câu 24 Trong yếu tố gây nhiễu trình giao tiếp, đâu yếu tố chính? a Môi trường ồn b Yếu tố bên c Thiếu tập trung d Sức khỏe Đáp án b Các yếu tố bên tâm lý, lọc thông tin, ngơn ngữ ngun nhân dẫn đến nhiễu trình giao tiếp Câu 25 Giai đoạn giải mã thông điệp diễn nào? a Khi bạn diễn đạt suy nghĩ ý tưởng b Khi người nghe tiếp nhận thông tin c Khi người nghe lý giải thông tin d Khi thông tin truyền tải Đáp án c Giải mã thông điểm trình người nhận sử dụng kỹ hiểu ý thơng điệp, giai đoạn bắt đầu người nghe lý giải thơng điệp theo ngơn ngữ Câu 26 Bạn nên thực dẫn sau để đảm bảo truyền tải thông tin thành công? Hãy chọn đáp án a Trình bày cách thân thiện b Trình bày cách trịnh thượng c Quan sát lắng nghe để xem người có ý vào thơng tin bạn trình bày khơng d Chỉ cám ơn người nghe họ đặt câu hỏi Đáp án a, c Thông điệp muốn truyền tải thành công phải thu hút tâm người nghe Để làm điều đó, bạn cần trình bày cách thân thiện, quan sát lắng nghe cách người nghe theo dõi thông điệp bạn Câu 27 Giao tiếp trực tiếp có lợi ích so với giao tiếp qua điện thoại? a Thông tin truyền tải thời điểm không gian cụ thể b Người giao tiếp không bị tập trung c Giao tiếp diễn nhanh chóng, dễ dàng tiện lợi d Những thông tin phức tạp truyền tải xác e Bạn đạt nhiều mục đích khoảng thời gian ngắn Đáp án a, b, d Khi giao tiếp trực tiếp, bạn loại bỏ yếu tố gây nhiễu không gian, công nghệ gây Giao tiếp trực tiếp khiến người giao tiếp tập trung, thông tin truyền tải cần đưa vào thời điểm cụ thể đảm bảo giao tiếp diễn nhanh chóng, dễ dàng thuận lợi Câu 28 Cách tốt để kiểm tra xem thông tin có hiểu nghĩa khơng là? a Quan sát ngôn ngữ thể người nghe b Đặt câu hỏi mở cho người nghe -Phần mềm quản lý nhân SureHCS c Hỏi người nghe xem họ có hiểu bạn không d Chỉ người nghe đặt câu hỏi, bạn biết họ hiểu bạn Đáp án b Mỗi bạn không hiểu thông điệp, đặt câu hỏi với người nói để xác định xem cách hiểu bạn xác Câu 29 Bạn nên tuân theo dẫn sau truyền tải thông tin? Hãy chọn đáp án a Trình bày khái qt nội dung thơng tin b Giải thích thơng tin cần thiết để tạo ngữ cảnh cụ thể cho nội dung c Giải thích lý thơng tin đóng vai trị quan trọng bạn d Sau trình bày xong đặt trả lời câu hỏi Đáp án a, b, c Khi truyền tải thông điệp bạn cần trình bày khái qt nội dung thơng tin, giải thích thơng tin mà bạn truyền tải ngữ cảnh cụ thể giải thích lại quan trọng bạn muốn truyền tải thơng điệp thành cơng Câu 30 Khi giao tiếp văn phù hợp giao tiếp trực tiếp? a Khi bạn muốn đưa nhiều câu hỏi b Khi bạn muốn nhanh chóng nhận ý kiến trả lời vấn đề c Khi bạn muốn trình bày ý tưởng phức tạp d Khi bạn muốn tránh nói chuyện với Đáp án c Giao tiếp văn có nhiều lợi ích, phương thức giao tiếp hiệu bạn muốn trình bày vấn đề phức tạp, địi hỏi thời gian nghiên cứu Câu 31 Cách tốt để chuẩn bị cho giao tiếp qua điện thoại gì? a Nghĩ trước chuẩn bị trước nội dung gọi b Khơng chuẩn bị c Nghĩ trước vài câu hỏi người giao tiếp hỏi Đáp án a Để giao tiếp qua điện thoại thành công, bạn cần nghĩ chuẩn bị trước nội dung trước gọi Câu 32 Ưu điểm việc giao tiếp qua điện thoại gì? a Bạn tiết kiệm thời gian cơng sức lại b Có thể có yếu tố gây nhãng mà bạn phát c Bạn tránh việc gặp mặt trực tiếp d Bạn có khả tiếp cận với nhiều người khoảng thời gian ngắn Đáp án a, c, d Giao tiếp qua điện thoại giúp bạn tiết kiệm thời gian công sức lại so với giao tiếp trực tiếp Trong tình nhạy cảm, bạn khơng cần gặp trực tiếp mà đảm bảo hiệu giao tiếp đồng thời giúp bạn tiếp xúc với nhiều người khoảng thời gian ngắn Câu 33 Bạn cần giây để thu hút ý người nghe giọng nói ngơn từ bạn giao tiếp qua điện thoại? -Phần mềm quản lý nhân SureHCS a giây b giây c giây d giây Đáp án d Đặc trưng giao tiếp qua điện thoại ngắn gọn Bạn có giây để gây ấn tượng với người nghe qua giọng nói, lời giới thiệu Câu 34 Yếu tố sau không ảnh hưởng đến trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, đối tác giao tiếp với bạn? a Giọng nói b Cách lựa chọn từ ngữ c Cú pháp d Điệu e Tư Đáp án c Khi giao tiếp trực tiếp, cú pháp mà bạn sử dụng thường không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu giao tiếp Câu 35 Nếu bạn muốn thể bạn lắng nghe người nói bạn nên trì giao tiếp mắt khoảng thời gian bao lâu? a 100% thời gian nói chuyện b 90% thời gian nói chuyện c 70% thời gian nói chuyện d 50% thời gian nói chuyện Đáp án b Khi giao tiếp bạn nên trì giao tiếp mắt từ 80 – 90% với người nói để thể bạn lắng nghe họ Bạn dùng 10% ý cịn lại để ý đến yếu tố khác Câu 36 Trong khách hàng nói chuyện với bạn, bạn nên… Hãy chọn đáp án a Ngồi đứng thẳng b Liếc nhìn đồng hồ tường c Ln tươi cười thường xuyên gật đầu d Duy trì khoảng cách giao tiếp cánh tay Đáp án a, c, d Khi khách hàng nói chuyện, bạn nên ngồi đứng thẳng lưng, tươi cười thường xuyên gật đầu theo nhịp kể trì khoảng cách giao tiếp cánh tay Câu 37 Những hành động sau thường gắn liền với phương pháp lắng nghe chủ động? Hãy chọn đáp án a Trình bày lại thơng tin nhận b Phản ứng lại thông tin nhận c Đặt câu hỏi d Tóm tắt thơng tin nhận e Ngắt lời người đối thoại -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Đáp án a, c, d Lắng nghe chủ động thể qua việc bạn trình bày lại thơng tin truyền tải, biết cách đặt câu hỏi tóm tắt lại thông tin theo ngôn ngữ Câu 38 Khi giao tiếp bạn cần tuân thủ nguyên tắc sau đây? Hãy chọn đáp án a Quyền ưu tiên phụ nữ, khách hàng người cao tuổi b Nguyên tắc chạm c Không đụng chạm vấn đề tơn giáo, trị, văn hóa d Mỉm cười giao tiếp Đáp án a, b, c Để thể bạn người chuyên nghiệp giao tiếp, bạn cần tuân thủ nguyên tắc quyền ưu tiên với phụ nữ, tạo điều kiện cho người nhận sử dụng nguyên tắc chạm không đề cấp đến vấn đề nhạy cảm liên quan đến tơn giáo hay trị Câu 39 Khi trả lời điện thoại, bạn nên a Nhấc máy sau hồi chuông b Luôn xưng tên bạn trước c Dừng chút người gọi nhận biết bạn nói d Nói giọng bình thường, khơng trang trọng Đáp án b Để thể tôn trọng tạo điều kiện tốt cho người nghe, bạn xưng tên giao tiếp qua điện thoại Câu 40 Để đảm bảo thực nghi thức cần thiết sử dụng điện thoại, người gọi, bạn nên a Chỉ gọi bạn có hẹn trước b Kiểm tra với người nhận để xác định thời gian thích hợp cho điện thoại c Ngay giải thích lý bạn gọi điện d Đừng thơng báo cho người nhận điện thoại thông tin cách bất ngờ Đáp án b Nhằm tránh việc bạn làm phiền giao tiếp vào thời điểm không thuận lợi, bạn nên kiểm tra để xác nhận thời điểm giao tiếp thích hợp với họ Ví dụ, Em gọi cho chị vào 9h00 sáng ngày thứ nhé? Câu 41 Khi viết thư điện tử, bạn nên… Hãy chọn đáp án a Luôn ghi rõ mục đích thư mục "Tiêu đề thư" Subject b Nêu rõ yêu cầu bạn nếu có thư c Sử dụng phong cách giọng văn khác với người nhận, không bắt chước phong cách họ d Trình bày cách thoải mái e-mail khơng phải loại hình thư thức kinh doanh Đáp án a, b Mỗi ngày, khách hàng bạn nhận nhiều email Bạn thu hút ý khách hàng cách ln ghi rõ mục đích bạn tiêu đề nêu rõ yêu cầu bạn nội dung thư giao tiếp qua email -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Câu 42 Bạn phải làm để gây ấn tượng tạo mối quan hệ với người khác? Hãy chọn đáp án a Đồng tình với họ nói b Thay đổi âm lượng giọng nói cho phù hợp với người bạn đối thoại c Bắt chước tư giao tiếp họ d Thường xuyên giao tiếp mắt với họ Đáp án b, c, d Muốn tạo ấn tượng xây dựng mối quan hệ lâu dài với người khác bạn nên thay đổi âm lượng giọng nói cho phù hợp với hồn cảnh giao tiếp, bắt chước theo động tác họ đừng lộ liễu thích người khác giống Và cuối bạn phải giữ mối liên hệ cách liên tục giao tiếp mắt với họ Câu 43 Hành động ngồi ngả người phía trước ám điều giao tiếp? a Người có thái độ hạ thái độ hách dịch b Người tự tin c Người hứng thú sẵn sàng hồi đáp d Người cố kiềm chế Đáp án c Khi người có hành động ngả người phía trước giao tiếp, ngôn ngữ thể họ muốn thông báo nói bạn hấp dẫn họ thấy thích thú vấn đề bạn trình bày, họ sẵn sàng phản hồi với bạn có hội Câu 44 Đâu hình thức dấu hiệu biểu ngữ điệu giao tiếp? Hãy chọn đáp án a Những biểu khuôn mặt b Những biến đổi âm điệu c Những cử động tay d Các mức cao độ âm phát e Sự co giãn đồng tử Đáp án b, d Ngữ điệu giao tiếp người thường thể qua biến đổi âm điệu theo hướng trầm bổng mức độ to nhỏ âm phát Câu 45 Ngơn ngữ thể, thể điều người thường siết chặt tay gõ chân xuống sàn trình giao tiếp? a Suy tư b Sẵn sàng phản hồi c Trốn tránh d Thách thức e Trầm ngâm Đáp án d Khi người giao tiếp với bạn siết chặt tay gõ chân xuống sàn nhà, ngơn ngữ thể họ nói nên họ thách thức bạn Đó tư chuẩn bị cho cơng -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Câu 46 Đâu cách tốt để chắn bạn hoàn toàn hiểu thơng điệp đó? a Xem xét ngữ cảnh mà người nói b Xem xét giọng điệu người nói c Sử dụng ngữ điệu phù hợp để trình bày lại thơng điệp người nói d Ghi chép hết người nói trình bày Đáp án c Muốn chắn bạn hiểu thơng điệp cách xác, bạn sử dụng ngơn ngữ cách phù hợp để diễn tả lại thông điệp họ theo cách hiểu bạn Câu 47 Bạn làm để hiểu rõ điều người khác nói? a Đưa đánh giá dựa điều họ nói b Cố gắng hiểu ngơn ngữ thể c Sử dụng ngữ điệu d Giao tiếp mắt e Đặt câu hỏi Đáp án e Để hiểu rõ người khác nói với bạn, bạn nên đặt câu hỏi để xác nhận lại xem cách hiểu thực xác với ý định họ truyền tải hay chưa Câu 48 Lắng nghe tích cực có đặc điểm nào? Hãy chọn đáp án a Mỉm cười với người nói b Gật đầu người nói c Đặt câu hỏi d Diễn giải lại thơng điệp người nói e Thể tư sẵn sàng phản hồi Đáp án a, b, e Người lắng nghe tích cực thường có đặc điểm ln mỉm cười giao tiếp, biết cách đặt câu hỏi chủ động thể tâm mong muốn phản hồi lại thông điệp Câu 49 Đâu đặc điểm tính đốn giao tiếp? Hãy chọn đáp án a Khoe khoang b Thái độ kể cả, bề c Tự tin d Thích cạnh tranh e Tôn trọng người khác Đáp án c, e Một người giao tiếp đốn người ln thể tự tin tôn trọng người khác trình giao tiếp -Phần mềm quản lý nhân SureHCS Câu 50 Khi bắt tay giao tiếp, bạn nên đứng khoảng cách bao xa vừa phải? a 50 cm b Sải tay c cánh tay người cao d Tùy trường hợp Đáp án c Khi bắt tay người khác, bạn cần tuân thủ khoảng cách cánh tay người cao Ở khoảng cách này, tầm mắt giao tiếp hai bình đẳng tránh việc có người ngang qua làm gián đoạn giao tiếp bạn Tham khảo biên tập từ nguồn -Phần mềm quản lý nhân SureHCS ... Câu 22 Giao tiếp công việc nơi công sở thường khơng sử dụng hình thức sau đây? a Giao tiếp điện thoại b Giao tiếp qua email c Giao tiếp trực tiếp d Giao tiếp văn e Giao tiếp fax Đáp án e Trong... nghĩa sau mơ tả xác chất giao tiếp? a Giao tiếp tương tác trao đổi thơng tin người nói người nghe b Giao tiếp mang tính chất thời điểm đối tượng giao tiếp tiếp xúc c Giao tiếp q trình truyền tải... tải? Hãy chọn đáp án đúng a Tiếng ồn giao tiếp b Tâm trạng thời điểm giao tiếp c Sự khác biệt ngơn ngữ văn hóa d Bộ lọc thông tin người tham gia giao tiếp e Thiếu tự tin giao tiếp Đáp án c, d - Xem thêm -Xem thêm 50 CÂU TRẮC NGHIỆM môn KỸ NĂNG GIAO TIẾP có đáp án,
trắc nghiệm nhập môn khoa học giao tiếp