tung kinh nhan qua 3 doi
Ngày 3/9, video ghi lại hình ảnh ông Akam Sofyol Anam - Giám đốc Văn phòng An ninh và an toàn của Liên hợp quốc tại Yemen đã xuất hiện trên mạng. Điều đáng chú ý là ông Anam cùng 4 đồng nghiệp khác đã bị bắt cóc vào ngày 11/2 vừa qua.
Cụ thể, Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể hơn về các loại BĐS đưa vào kinh doanh tại Điều 5 Luật kinh doanh BĐS hiện hành bao gồm: Nhà ở có sẵn và nhà ở hình thành trong tương lai; Công trình xây dựng có sẵn và công trình xây dựng hình thành trong
Là nghệ sĩ có tài nhưng đời sống tình cảm của Từ Thiếu Cường cũng gây chú ý chẳng kém gì sự nghiệp. Ông từng trải qua 3 cuộc hôn nhân, chưa kể không ít cuộc tình chóng vánh khác. Mối tình ồn ào nhất của Từ Thiếu Cường là cuộc hôn nhân với "Lý Mạc Sầu" Tuyết Lê của Thần Điêu Đại Hiệp 1995. Từ Thiếu Cường và Tuyết Lê từng có chuyện tình ồn ào.
Tấm Acrylic khắc họa tiết tinh xảo, tạo hiệu ứng 3D Có 3 màu: Trắng - Vàng - Vàng nhạt Sử dụng điện 220v Thay đổi màu bằng cách tắt bật lại đèn Sản phẩm thích hợp làm quà tặng độc đáo SHOP CAM KẾT GIAO HÀNG ĐÚNG MẪU, SẢN PHẨM ĐÚNG NHƯ HÌNHMàu sắc ánh sáng có 3 màu: trắng, vàng, trắng ấm.
- Lĩnh vực: nhân viên kinh doanh phụ tùng Mô tả công việc chăm sóc khách hàng có sẵn của công ty Yêu cầu công việc - Chăm sóc khách hàng có sẵn của công ty Quyền lợi được hưởng hưởng lương chính+ lương lũy tiến+ lương phụ cấp+ hoa hồng Hồ sơ bao gồm - Đơn xin việc. - Sơ yếu lý lịch. - Hộ khẩu, chứng minh nhân dân và giấy khám sức khoẻ.
Một cặp đôi ân ái trong hồ bơi trong suốt mà không hề hay biết đang bị thiên hạ dõi theo. Theo nội dung đoạn clip được những người xung quanh quay lại, một cặp đôi ở Brazil đã có những hành động được cho là đang "ân ái" ngay trong bể bơi. Điều đáng nói là bể bơi
Vay Tien Online Me. Ác giả ác báo và chuyện vợ chồng gian thần Tần Cối bị phỉ nhổ muôn đời Vì câu trả lời này mà khiến cho Thiền sư phải đọa làm kiếp chồn năm trăm năm, sau gặp ngài Bá Trượng mới được giải thoát. Cũng do câu chuyện trên đây, nên các vị cổ đức khuyên người học Phật, trước tiên phải duyệt các kinh nói về nhân qủa tội phước, chú trọng phần giới hạnh, cùng hiểu biết sự luân hồi trong ba cõi sáu đường, sau mới nghiên cứu qua kinh cao. Nếu trái thứ tự, bước đầu tiên đọc những kinh như Kim Cang, Pháp Bảo Đàn…nếu không phải là người có nhiều căn lành, tất dễ sinh lòng khinh mạn và lạc vào lối chấp không? Thật ra, nhân qủa không phải là chuyện thấp nhỏ, vì từ chúng sinh đọa tam đồ cho đến chư Phật thành Chính Giác đều không ngoài nhân quả. Do sự kiện trên bút giả mới phiên dịch quyển kinh nàỵ Kinh Hoa Nghêm nói “Lòng tin là bước đầu của đạo, và mẹ của tất cả công đức”. Vì kinh nhân quả nói tóm tắt không mấy trang nên bút giả lại phụ thêm một ít câu chuyện tạm gọi là “Nhân quả luân hồi tạp lục”. Về việc luân hồi nhân quả ở Việt Nam ta cũng có nhiều, tiếc vì không ai ghi chép thành sách, nên tản mác đi. Vì thế, bút giả đành tìm dịch các câu chuyện bên Trung Hoa, và những việc này đều có thật. Cái thông bệnh của người tu Phật, là hay luận huyền nói diệu, mà việc thường nhỏ lại ít khi làm được. Nhớ lại hồi xưa sư cụ Khánh Hòa còn tại thế, có một Phật tử hỏi về đạo lý “vô thỉ vô chung”. Sư Cụ mỉm cười đáp “Hỏi chi xa vời vậy? Gắng ăn chay và niệm Phật cho đều đều là tốt lắm rồi!”, Đại để, người đã lăn lội trong nhiều giáo điển, lại không muốn nói diệu huyền mà chỉ chú trọng đến sự thật hành thông thường, là như thế. Kinh Hoa Nghiêm nói “Lòng tin là bước đầu của đạo, và mẹ của tất cả công đức”. Mong những vị hữu duyên, khi xem đến quyển sách này, bắt đầu tu niệm tin có linh hồn ma quỷ, đến tin có tội phước báo ứng, việc chuyển kiếp luân hồi, cũng sự linh hiển của Phật Pháp. Do đó, lần lượt tiếp tục xem những kinh cao hơn. Chừng ấy, lẽ không không sắc sắc, đường thị thị phi phi, sẽ hỏi Phật đà mà tỉnh ngộ. – Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội. Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng – Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên qủa báo gì khiến nên như thế? Tin và sống theo định luật nhân quả Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau. Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc. Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ”. Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm qủa báo. Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau. Tạo nhân duyên gì để hạt giống nghiệp xấu không trổ quả? Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng Giàu sang đều bởi mạng Đời trước có tu nhân Ai thọ trì kinh này, Đời đời hưởng phước lộc. Thiện nam, tín nữ nghe ta nói Suy nhớ kinh Nhân Quả ba đời Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ, Phật nói lời Phật chớ chê khinh. 1. Đời nay làm quan do nhân gì? Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật Đời nay hưởng phước bởi nhân xưa Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật. Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình. Làm đẹp Như Lai, đẹp từ thân. Đừng bảo làm quan là chuyện dễ, Không tu phước ấy đến từ đâu? 2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì? Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ. 3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc? Đời trước thí áo giúp Tăng Ni. 4. Có ăn, có mặc do nhân gì? Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống. 5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi? Kiếp trước một nửa không xả thí. 6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì? Xưa lên chùa am cúng thí gạo. 7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì? Xưa lập chùa am cất nhà mát 1 8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì? Đời trước hoa tươi cúng dường Phật. 9. Thông minh trí tuệ do nhân gì? Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật. 10. Người thấy vui mừng do nhân gì? Xưa kết duyên lành cùng đại chúng. 11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì? Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật. 12. Cha mẹ song toàn do nhân gì? Đời trước kính trọng người cô độc. 13. Không cha mất mẹ do nhân gì? Kiếp trước là người đánh bẫy chim. 14. Con cháu đông nhiều do nhân gì? Đời trước mở lồng thả chim thú. 15. Nuôi con không được do nhân gì? Xưa sinh con gái dìm cho chết? 2 16. Đời nay không con do nhân gì? Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa. 17. Đời nay sống lâu do nhân gì? Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều. 18. Đời nay mạng yểu do nhân gì? Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh. 19. Đời nay không vợ do nhân gì? Kiếp trước tham mưu gian vợ người. 20. Đời nay ở góa do nhân gì? Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng. 21. Làm thân tôi đòi do nhân gì? Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa. 22. Đời nay mắt sáng do nhân gì? Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật. 23. Đời nay đui mù do nhân gì? Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh. 24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì? Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật. 25. Đời nay câm điếc do nhân gì? Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ. 26. Đời nay lưng gù cho nhân gì? Kiếp trước chê cười người lễ Phật. 27. Tay bị cong quẹo do nhân gì? Đời trước đều là người tạo nghiệp. 28. Chân bị co rút do nhân gì? Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người. 29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì? Xưa thiếu nợ người không chịu trả. 30. Đọa làm heo chó do nhân gì? Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người. 31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì? Xưa đem rượu thịt bày cúng Phật. 32. Đời nay không bệnh do nhân gì? Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân. 33. Hằng bị lao tù do nhân gì? Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người. 34. Đời nay chết đói do nhân gì? Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột 35. Bị thuốc độc chết do nhân gì? Kiếp trước đăng lưới giết hại cá. 36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì? Ác tâm lấn hiếp mưu hại người. 37. Đời nay lùn bé do nhân gì? Kiếp trước xem kinh để dưới đất. 3 38. Nay thường thổ huyết do nhân gì? Xưa ăn thịt rồi đi tụng kinh. 4 39. Đời nay ngu điếc do nhân gì? Kiếp trước tụng kinh chẳng lắng nghe. 40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì? Xông hơi thịt cá trước bàn Phật. 41. Thân có mùi hôi do nhân gì? Xưa bán hương thơm trọn dối gian. 42. Đời nay chết treo do nhân gì? Kiếp trước đem dây săn bẫy thú. 43. Quan, quả, cô độc do nhân gì? Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người. 44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì? Cân non, già, thiếu lòng gian xảo. 45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì? Kiếp trước gây oan tạo đối đầu. Muôn việc mình làm lại mình chịu Thọ khổ địa ngục oán trách ai? Đừng nói nhân qủa người không thấy. Xa trả con cháu, gần trả mình. 46. Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước. Sẽ tin bố thí với trì trai. Kiếp trước tu nhân nay hưởng quả. Đời nầy tu tích để về sau. Nếu ai hủy báng kinh Nhân Quả Kiếp sau đọa lạc mất thân người. Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Quả. Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh. Kẻ nào biên chép kinh Nhân Quả, Truyền đời tu học đạo nhà hưng. Ai mà mang đội kinh Nhân Quả, Tai hung hoạnh họa chẳng vào thân. Nếu người giản nói kinh nhân qủa Đời đời kiếp kiếp được thông minh Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Quả Đời sau người thấy sinh cung kính. Người nào ấn tống kinh Nhân Quả. Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương. Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời trước. Chính sự thọ hưởng của đời nay. Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời sau. Chính sự gây nhân của kiếp này, Nếu như nhân quả không cảm ứng, Do đâu Mục Liên cứu được mẹ? Người nào tin sâu kinh Nhân Quả. Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc. Nhân quả ba đời nói không hết. Thiên long chẳng bỏ ý người lành. Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn, Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn. Gởi kho bền chắc không hư mất, 5 Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng. Muốn biết nhân đời trước, Xem sự hưởng đời nay, Muốn biết quả đời sau, Xem việc làm kiếp này. Chú thích 1 Nhà dưỡng Lão, cô nhi. 2 Thuở xưa từ Ấn Độ, cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con nhiều nuôi không tham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới sinh ra. 3 Ngồi dưới đất xem kinh, nên để kinh trên một cái bệ, khinh mạn cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân của tướng cao hơn. 4 Ăn mặn rồi muốn tụng kinh, phải súc miệng rửa tay, rửa miệng sạch, và tụng chú như sau. Tất được thanh tịnh không tội lỗi Tịnh tam nghiệp chân ngôn Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm 7 biến Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhava suddhà hàma. 5 Gởi kho đây không phải đốt giấy tiền vàng bạc gởi vào kho, mà ý nói tiền của thế gian không bền, khi chết rồi phải bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm lành ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật, là kho.
Thuở xưa, có người đến hỏi một vị Thiền sư "Bậc tu hành đã ngộ lý Chân Không, có lạc vào vòng nhân quả đặng?". Thiền sư đáp "Bậc đại tu hành chẳng lạc vào vòng nhân quả". Ác giả ác báo và chuyện vợ chồng gian thần Tần Cối bị phỉ nhổ muôn đời Vì câu trả lời này mà khiến cho Thiền sư phải đọa làm kiếp chồn năm trăm năm, sau gặp ngài Bá Trượng mới được giải thoát. Cũng do câu chuyện trên đây, nên các vị cổ đức khuyên người học Phật, trước tiên phải duyệt các kinh nói về nhân qủa tội phước, chú trọng phần giới hạnh, cùng hiểu biết sự luân hồi trong ba cõi sáu đường, sau mới nghiên cứu qua kinh cao. Nếu trái thứ tự, bước đầu tiên đọc những kinh như Kim Cang, Pháp Bảo Đàn...nếu không phải là người có nhiều căn lành, tất dễ sinh lòng khinh mạn và lạc vào lối chấp không? Thật ra, nhân qủa không phải là chuyện thấp nhỏ, vì từ chúng sinh đọa tam đồ cho đến chư Phật thành Chính Giác đều không ngoài nhân quả. Do sự kiện trên bút giả mới phiên dịch quyển kinh nàỵ Kinh Hoa Nghêm nói "Lòng tin là bước đầu của đạo, và mẹ của tất cả công đức". Vì kinh nhân quả nói tóm tắt không mấy trang nên bút giả lại phụ thêm một ít câu chuyện tạm gọi là "Nhân quả luân hồi tạp lục". Về việc luân hồi nhân quả ở Việt Nam ta cũng có nhiều, tiếc vì không ai ghi chép thành sách, nên tản mác đi. Vì thế, bút giả đành tìm dịch các câu chuyện bên Trung Hoa, và những việc này đều có thật. Cái thông bệnh của người tu Phật, là hay luận huyền nói diệu, mà việc thường nhỏ lại ít khi làm được. Nhớ lại hồi xưa sư cụ Khánh Hòa còn tại thế, có một Phật tử hỏi về đạo lý "vô thỉ vô chung". Sư Cụ mỉm cười đáp "Hỏi chi xa vời vậy? Gắng ăn chay và niệm Phật cho đều đều là tốt lắm rồi!", Đại để, người đã lăn lội trong nhiều giáo điển, lại không muốn nói diệu huyền mà chỉ chú trọng đến sự thật hành thông thường, là như thế. Kinh Hoa Nghiêm nói "Lòng tin là bước đầu của đạo, và mẹ của tất cả công đức". Mong những vị hữu duyên, khi xem đến quyển sách này, bắt đầu tu niệm tin có linh hồn ma quỷ, đến tin có tội phước báo ứng, việc chuyển kiếp luân hồi, cũng sự linh hiển của Phật Pháp. Do đó, lần lượt tiếp tục xem những kinh cao hơn. Chừng ấy, lẽ không không sắc sắc, đường thị thị phi phi, sẽ hỏi Phật đà mà tỉnh ngộ. - Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội. Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng - Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên qủa báo gì khiến nên như thế? Tin và sống theo định luật nhân quả Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau. Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc. Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ". Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm qủa báo. Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau. Tạo nhân duyên gì để hạt giống nghiệp xấu không trổ quả? Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng Giàu sang đều bởi mạng Đời trước có tu nhân Ai thọ trì kinh này, Đời đời hưởng phước lộc. Thiện nam, tín nữ nghe ta nói Suy nhớ kinh Nhân Quả ba đời Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ, Phật nói lời Phật chớ chê khinh. 1. Đời nay làm quan do nhân gì? Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật Đời nay hưởng phước bởi nhân xưa Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật. Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình. Làm đẹp Như Lai, đẹp từ thân. Đừng bảo làm quan là chuyện dễ, Không tu phước ấy đến từ đâu? 2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì? Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ. 3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc? Đời trước thí áo giúp Tăng Ni. 4. Có ăn, có mặc do nhân gì? Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống. 5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi? Kiếp trước một nửa không xả thí. 6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì? Xưa lên chùa am cúng thí gạo. 7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì? Xưa lập chùa am cất nhà mát 1 8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì? Đời trước hoa tươi cúng dường Phật. 9. Thông minh trí tuệ do nhân gì? Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật. 10. Người thấy vui mừng do nhân gì? Xưa kết duyên lành cùng đại chúng. 11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì? Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật. 12. Cha mẹ song toàn do nhân gì? Đời trước kính trọng người cô độc. 13. Không cha mất mẹ do nhân gì? Kiếp trước là người đánh bẫy chim. 14. Con cháu đông nhiều do nhân gì? Đời trước mở lồng thả chim thú. 15. Nuôi con không được do nhân gì? Xưa sinh con gái dìm cho chết? 2 16. Đời nay không con do nhân gì? Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa. 17. Đời nay sống lâu do nhân gì? Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều. 18. Đời nay mạng yểu do nhân gì? Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh. 19. Đời nay không vợ do nhân gì? Kiếp trước tham mưu gian vợ người. 20. Đời nay ở góa do nhân gì? Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng. 21. Làm thân tôi đòi do nhân gì? Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa. 22. Đời nay mắt sáng do nhân gì? Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật. 23. Đời nay đui mù do nhân gì? Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh. 24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì? Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật. 25. Đời nay câm điếc do nhân gì? Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ. 26. Đời nay lưng gù cho nhân gì? Kiếp trước chê cười người lễ Phật. 27. Tay bị cong quẹo do nhân gì? Đời trước đều là người tạo nghiệp. 28. Chân bị co rút do nhân gì? Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người. 29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì? Xưa thiếu nợ người không chịu trả. 30. Đọa làm heo chó do nhân gì? Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người. 31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì? Xưa đem rượu thịt bày cúng Phật. 32. Đời nay không bệnh do nhân gì? Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân. 33. Hằng bị lao tù do nhân gì? Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người. 34. Đời nay chết đói do nhân gì? Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột 35. Bị thuốc độc chết do nhân gì? Kiếp trước đăng lưới giết hại cá. 36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì? Ác tâm lấn hiếp mưu hại người. 37. Đời nay lùn bé do nhân gì? Kiếp trước xem kinh để dưới đất. 3 38. Nay thường thổ huyết do nhân gì? Xưa ăn thịt rồi đi tụng kinh. 4 39. Đời nay ngu điếc do nhân gì? Kiếp trước tụng kinh chẳng lắng nghe. 40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì? Xông hơi thịt cá trước bàn Phật. 41. Thân có mùi hôi do nhân gì? Xưa bán hương thơm trọn dối gian. 42. Đời nay chết treo do nhân gì? Kiếp trước đem dây săn bẫy thú. 43. Quan, quả, cô độc do nhân gì? Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người. 44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì? Cân non, già, thiếu lòng gian xảo. 45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì? Kiếp trước gây oan tạo đối đầu. Muôn việc mình làm lại mình chịu Thọ khổ địa ngục oán trách ai? Đừng nói nhân qủa người không thấy. Xa trả con cháu, gần trả mình. 46. Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước. Sẽ tin bố thí với trì trai. Kiếp trước tu nhân nay hưởng quả. Đời nầy tu tích để về sau. Nếu ai hủy báng kinh Nhân Quả Kiếp sau đọa lạc mất thân người. Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Quả. Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh. Kẻ nào biên chép kinh Nhân Quả, Truyền đời tu học đạo nhà hưng. Ai mà mang đội kinh Nhân Quả, Tai hung hoạnh họa chẳng vào thân. Nếu người giản nói kinh nhân qủa Đời đời kiếp kiếp được thông minh Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Quả Đời sau người thấy sinh cung kính. Người nào ấn tống kinh Nhân Quả. Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương. Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời trước. Chính sự thọ hưởng của đời nay. Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời sau. Chính sự gây nhân của kiếp này, Nếu như nhân quả không cảm ứng, Do đâu Mục Liên cứu được mẹ? Người nào tin sâu kinh Nhân Quả. Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc. Nhân quả ba đời nói không hết. Thiên long chẳng bỏ ý người lành. Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn, Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn. Gởi kho bền chắc không hư mất, 5 Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng. Muốn biết nhân đời trước, Xem sự hưởng đời nay, Muốn biết quả đời sau, Xem việc làm kiếp này. Chú thích 1 Nhà dưỡng Lão, cô nhi. 2 Thuở xưa từ Ấn Độ, cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con nhiều nuôi không tham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới sinh ra. 3 Ngồi dưới đất xem kinh, nên để kinh trên một cái bệ, khinh mạn cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân của tướng cao hơn. 4 Ăn mặn rồi muốn tụng kinh, phải súc miệng rửa tay, rửa miệng sạch, và tụng chú như sau. Tất được thanh tịnh không tội lỗi Tịnh tam nghiệp chân ngôn Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm 7 biến Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhava suddhà hàma. 5 Gởi kho đây không phải đốt giấy tiền vàng bạc gởi vào kho, mà ý nói tiền của thế gian không bền, khi chết rồi phải bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm lành ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật, là kho.
Nhân quả ba đời là nhân quả xảy ra thông suốt quá khứ, hiện tại và vị lai. Bao gồm nhân đời trước, quả đời này, nhân đời này, quả đời sau. Đây gọi là hiểu Nhân quả theo đúng Chánh kiến. Còn nếu hiểu nhân quả mà chỉ gói gọn trọng một đời thì là nhân quả của Tà Kiến và Ngoại đạo. Loại nhân quả một đời này không thể giải tích được các hiện tượng trong thế gian, ví như Tại sao có người làm ác, sống ác mà lại sống khỏe mạnh giầu sang? Tại sao có người sống thiện lành mà lại nghèo khó khổ sở?…*Chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi, do nhân thiện ác đã gieo mà chịu quả báo phước họa tương ứng. Quả báo này thâu trọn trong “thông báo ba đời”, nghĩa làĐời này làm thiện, làm ác, ngay đời này được phước, mắc họa, đó gọi là Hiện này làm thiện, làm ác, trong đời sau hưởng phước, mắc họa, đó gọi là Sanh này làm thiện, làm ác, đến đời thứ ba, hoặc đời thứ tư, hoặc mười, trăm, ngàn vạn đời, hoặc đến vô lượng vô biên kiếp sau mới hưởng phước, mắc họa, đó gọi là Hậu Báo. Hậu Báo sớm – trễ không nhất định. Hễ gây nghiệp quyết định không thể không thọ đang xem Nhân quả 3 đời không sai 1 ly tạo nghiệp ác đời sau mồ côi, mù mắtTổ Ấn Quang dạy “Hai chữ Nhân Quả gồm trọn hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian không sót chút gì”. Đây là quy luật vận hành của pháp giới chúng sanh, đức Phật nhìn thấy bằng Tuệ nhãn nên dạy cho chúng ta biết, chứ không phải là Ngài tạo ra Nhân Quả đâu nhé! Nhân quả ba đời là gìÝ nghĩa của Nhân quả ba đờiBiết được ý nghĩa của nhân quả ba đời này thì làm lành sẽ được điều lành giáng xuống. Làm điều chẳng lành phải vướng tai ương, thánh ngôn vốn chẳng sai lầm! Giàu – sang, nghèo – hèn, thọ – yểu, cùng, thông, mạng trời chưa hề thiên vị. Cảnh duyên xảy tới như gương hiện bóng. Người trí biết sửa hình dung ngoài gương, kẻ ngu uổng công ghét hình ảnh hiện trong gương. Phải biết rằng “Chuyện trong thiên hạ đều có nhân duyên. Sự được thành hay chăng đều do nhân duyên xui khiến. Dù có người làm cho việc thành hay hoại. Nhưng quyền lực thật sự là do nhân trước của ta, chứ chẳng do duyên hiện tại. Hiểu điều này sẽ vui biết mạng trời, chẳng oán, chẳng trách. Làm đúng theo địa vị, chẳng chứng nhập mà tự đạt được vậy. Cảnh nghịch xảy đến bèn thuận chịu mà tu thân lập đức, chẳng buồn phiền oán trách chi ai. Lâu ngày chày tháng, mọi phước báo thế gian chẳng cầu mà tự quả ba đời và vận mệnh con đời đa phần không biết nhân quả ba đời nên vừa gặp chút tai ương. Nếu không oán trời thì cũng trách người, trọn chẳng có ý tưởng trả nợ, sanh lòng hối tội. Phải biết “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”. Trồng cỏ dại chẳng thể được hạt thóc ngon, trồng gai góc mong chi thóc nếp!Làm ác mà được phước là do đời trước tài bồi sâu xa. Nếu không làm ác, phước còn lớn hơn nữa! Ví như con cháu nhà giàu có Ăn uống phung phí, xài vàng như đất, nhưng không đến nỗi đói rét là do vàng nhiều. Nếu cứ ngày ngày như thế. Dẫu giàu có đến trăm vạn, chẳng mấy năm sẽ nhà tan người chết, hết sạch sành sanh!Làm lành mắc họa là do tội nghiệp đời trước sâu dày. Nếu không làm lành, tai ương càng lớn hơn. Ví như kẻ phạm tội nặng, chưa kịp xử phạt, lại lập công nhỏ. Do công nhỏ nên chưa được tha hoàn toàn, đổi tội nặng thành tội nhẹ. Nếu có thể ngày ngày lập công, do công nhiều thành lớn nên tội hết, được tha miễn. Lại còn được giàu sang vinh hiển, con thảo cháu hiền.*Lại nhiều người chẳng biết nhân quả và thiện ác đời trước, chỉ thấy việc tốt xấu trước mắt. Thấy làm thiện mắc họa bèn bảo “thiện chẳng đáng làm”. Thấy làm ác được phước bèn bảo “ác chẳng đáng kiêng”. Chẳng biết thiện báo, ác báo chẳng phải là chuyện một sớm, một chiều, phải xảy ra dần dần. Ví như ba thước băng, nào có phải là trời lạnh một buổi đã kết thành được đâu! Trăm sông đầy ắp nước nào có phải là trời nóng một ngày mà tan được băng đâu!Nên phàm khi gặp hoạn nạn, chớ nên oán trời trách người, chỉ nên tự trách mình đức mỏng, phước bạc. Rồi phát tâm sám hối ác nghiệp đã gieo trong tiền kiếp. Tu nhân tích đức để cứu chuộc lại lỗi lầm xưa mà thay đổi vận mệnh của chính mình. Như ông Du Tịnh Ý tu thân hành thiện, cũng phải mất ba năm mới chuyển đổi được số mạng của mình. Ông Viên Liễu Phàm phát tâm làm 10 ngàn việc thiện trong ba năm để cầu con. Họ nào có phải hành thiện một sớm một chiều mà có thể thay đổi số mạng đâu?!Kinh nhân quả ba đờiTrạng thái nhân quả thật vô cùng, gây nhân nào tất cảm quả ấy, duy sự báo ứng hoặc đến sớm hay muộn mà thôi. Trong đây, nếu có sự chuyển biến, là do những ảnh hưởng xấu hoặc tốt khác xen vào. Thí dụ, một ly nước trong, như ta chỉ bỏ muối vào, tất nước phải mặn. Nhưng nếu lại để xen thêm đường, vị nước sẽ đổi khác. Sự chuyển biến của nhân quả thiện ác cũng như kinh Luân Chuyển Ngũ ạo, Đức Phật bảo– Nầy A Nan! Muôn vật giữa đời đều có túc duyên. Người được quả báo hào quý làm bậc quốc vương, trưởng giả Từ nơi nhân lễ kính, phụng sự Tam bảo mà đến. Người được quả báo giàu có, của cải vô hạn, từ nơi nhân bố thí mà đến. Người được quả báo sống lâu, không đau bịnh, thân thể mạnh khoẻ cao lớn Từ nơi nhân giữ giới mà đến. Người được quả báo đoan trang xinh đẹp, nước da trắng tươi sáng rỡ, ai thấy cũng đều ưa thích mến chuộng Từ nơi nhân nhẫn nhục mà đến.*Người tánh nết siêng năng mau mắn, ưa làm việc phước thiện, từ nơi nhân tinh tấn mà đến. Người dáng điệu an nhàn, lời và hạnh đều có suy nghĩ, chừng mực, chắc chắn Từ nơi nhân thiền định mà đến. Người thông minh tài trí, hiểu suốt thâm pháp, từ nơi nhân tu huệ mà đến. Người được tiếng nói thanh thao rõ suốt, ai cũng ưa nghe Từ nơi nhân tụng kinh, ca ngợi Tam bảo mà đến. Người dáng vẻ sáng sạch hiền hòa, không đau yếu, ai thấy cũng mến Từ nơi nhân từ tâm mà thêm Các Loại Bản Lề Cửa Sắt - Top 10 Mẫu Bản Lề Cửa Sắt, Cửa Gỗ Ưa Chuộng NhấtNgài A-Nan thưa Bạch Thế Tôn! Sao gọi là “từ tâm”?ức Phật bảo “Từ tâm có bốn điều tất cả chúng sanh như mẹ thương con. chúng sanh khổ, xót xa muốn cứu độ. chúng sanh hiểu đạo, biết làm lành, hướng về nẻo giải thoát, sanh lòng vui mừng. ái hộ chúng sanh, chẳng những săn sóc giữ gìn thân mạng, mà còn không có lời vô ý làm cho người bất mãn, buồn rầu. Ấy là những tướng trạng của từ tâm.*Lại nầy A Nan! Kẻ nào thân thể cao lớn, là do nhân ưa lễ bái, khiêm nhường, cung kính tất cả mọi người. Kẻ nào lùn thấp, là do nhân khinh mạn, tự cao. Kẻ nào dung mạo thô xấu, là do nhân giận hờn, nóng nảy. Kẻ nào sanh ra ngây ngô kém hiểu biết, là do nhân không thích học hỏi. Kẻ nào ngu si, là do nhân không chịu dạy dỗ người. Kẻ nào câm ngọng, là do nhân khinh ngạo, chê bai người. Kẻ nào đui điếc là do nhân hủy báng Tam bảo, không chịu nghe chánh pháp. Kẻ nào làm thân tôi đòi là do nhân mắc nợ không trả, hoặc không kính lễ Tam bảo. Kẻ nào thân hình đen xấu, là do nhân che ánh sáng của Phật. Kẻ nào sanh ra ở nước Lõa- hình, là do nhân ăn mặc hở hang vào tinh xá, hay đến trước chỗ Phật. Kẻ nào sanh vào nước Mã đề thân người, bàn chân ngựa, là do nhân mang giày dép đi trước chỗ Phật. Kẻ nào sanh ở nước Xuyên hung mọi người đều xoi hông, là do nhân bố thí làm phước mà sanh lòng hối tiếc.*A Nan! Chúng sanh nào làm loài hươu nai, là do kiếp trước ưa làm cho người sợ hãi. Chúng sanh nào sanh làm loài rồng, là do kiếp trước ưa bỡn cợt và giận hờn, làm cho người phiền muộn. Kẻ nào nơi thân bị bịnh lác, ghẻ độc làm cho đau nhức khó chịu, chữa trị không lành, là do kiếp trước ưa đánh đập chúng sanh. Kẻ nào mọi người trông thấy đều vui mừng cảm mến, là do kiếp trước khi thấy người, niềm nở vui mừng cảm mến. Kẻ nào mọi người trông thấy đều chán ghét, là do kiếp trước khi thấy người, rẻ rúng chán ghét. Kẻ nào thường bị gông cùm tù ngục, là do kiếp trước hay trói buộc hoặc giam nhốt chúng-sanh trong lồng chậu, khiến cho nó không được tự do. Kẻ nào bị rách miệng sứt môi, là do kiếp trước ưa câu cá.*A Nan! Kẻ nào trong hội thuyết pháp không để ý lắng nghe, lại nói trái ngược làm loạn ý người khác, kiếp sau sanh làm con lừa tai dài, hoặc loài chó xụ tai. Kẻ nào kiêu căng bỏn sẻn tham lam, thích lén ăn uống, chỉ hưởng thụ riêng một mình không đoái hoài đến người thân sơ, hạng nghèo khổ; lúc chết rồi bị đọa vào Địa ngục, kế làm loại Ngạ quỷ, khi được sanh làm người thì nghèo hèn đói khát, mặc chẳng kín thân, ăn không no bụng. Kẻ nào thường ăn riêng thức ngon, cho người món dở, kiếp sau bị đọa làm loài chó, lợn, bọ hung. Kẻ nào thường tách mai, đánh vảy, lột da loài vật, đời sau làm sanh vật bị quả báo y như hành động của mình kiếp trước. Kẻ nào ưa giết hại, kiếp sau sẽ bị đọa vào Tam đồ, cho đến làm con phù du trên mặt nước, sớm sanh chiều chết. Kẻ nào trộm cướp, kiếp sau sẽ làm thân tôi tớ, hoặc trâu bò, lừa, ngựa để trả nợ người.*Kẻ nào hay nói dối, nói đâm thọc, mắng chửi, nói lời cay độc, bêu rêu việc xấu của người, khi chết sẽ sa xuống Địa ngục, bị rót nước đồng sôi vào miệng, hoặc bị cắt lưỡi, cày lưỡi, sau lại làm thân ác điểu, người nghe tiếng kêu đều kinh sợ bảo là điềm quái gở, nguyền rủa muốn cho nó chết. Kẻ nào quyến rũ dâm loạn vợ chồng con cái người, khi chết đọa vào Địa ngục, nam ôm cột đồng lửa, nữ nằm giường sắt nóng, sau lại làm loài thú đa dâm, hoặc làm loài ngỗng, vịt. Kẻ nào ưa uống rượu, phạm nhiều tội ác, lúc chết bị đọa vào Địa ngục, sau sanh làm loài dã nhơn, khi được thân người lại ngu si khờ dại. Kẻ nào vợ chồng không biết nhường nhịn hòa thuận, thường hay tranh cãi, nặng lời xua đuổi nhau, kiếp sau đọa làm thân chim cưu tu hú, chim bồ câu. Kẻ nào ưa lạm dụng sức người, kiếp sau sanh làm loài voi, bị người dùng sức lại.*Nầy A Nan! Trừ những vị làm quan, y theo pháp luật, hạch hỏi xử phạt một cách công minh, thì không tội. Nếu hạng quan liêu ỷ quyền thế xâm đoạt tài sản của dân, hoặc ăn hối lộ dung túng kẻ ác, tra tấn, gông cùm, xử hiếp người vô tội hay không đáng tội, thì khi chết sẽ bị đọa vào Địa ngục chịu thống khổ ngàn muôn kiếp, sau lại sanh vào loài trâu bò bị xỏ mũi, đánh đập, mang kéo nặng nề để đền tội nữa, A Nan! Người nào từ thân thể đến cách ăn ở, lôi thôi không sạch sẽ, do từ loài lợn mà đến. Người nào tham lam bỏn sẻn không ưa bố thí, do từ loài chó mà đến. Người nào ngược ngạo, tự tung tự tác không chịu nghe lời ai, do từ loài dê mà đến. Người nào tánh lao chao, gặp việc không nhẫn nại, do từ loài khỉ vượn mà đến. Người nào có tâm độc ác ngầm, do từ loài rắn rết mà đến. Người nào thích ăn ngon, hung dữ, ưa khủng hại chúng sanh, không có tâm lành, do từ loài cọp, sói, mèo, chồn mà đến…”*Như trên, việc luân hồi nhân quả thật vô cùng. Như bánh xe quay tròn, vay trả trả vay, không biết khi nào là kết cuộc! Trong luân hồi đã hàm nhân quả bởi nhân quả nên mới có luân hồi. Cho đến chư Phật muốn thành đạo chánh đẳng bồ đề, trong nhân hạnh cũng phải tu vô biên phước huệ. Nhưng đối với các bậc thánh giả, bởi đã dứt sạch ngã chấp, nên tùy ý đến hóa độ các cõi, hay muốn sống chết lúc nào cũng phải được tự tại. Và bởi chư thánh lấy pháp giới làm thân, đã thoát ly ngũ uẩn. Nên tuy thị hiện ở cõi trời, người, hay nơi ác đạo, cũng không bị sự khổ vui chi phối. Nên một vị thiền sư đã bảo “Lão tăng tự có phương nhàn tịnh. Nào ngại trăm phiền tám khổ vây!”
tung kinh nhan qua 3 doi