trầm cảm tập 4

Tổng biên tập: Nguyễn Thế Hào Giấy phép hoạt động Tạp chí điện tử số 535/GP-BTTTT ngày 21/08/2021 của Bộ Thông tin & Truyền thông. Địa chỉ: Số 4, Ngõ Hàng Chuối 1, Hàng Chuối, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Mẹ bị trầm cảm có khả năng cho bé ngừng bú sớm. Do đó trẻ dễ bị mắc các bệnh về tiêu chảy, truyền nhiễm. Việc trẻ quấy khóc đêm kéo dài sẽ khiến trẻ phải đối mặt với nguy cơ thấp còi, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch và trí tuệ. Theo các chuyên gia, giấc ngủ + Rối loạn trầm cảm là trạng thái bệnh lý rối loạn cảm xúc, thể hiện sự ức chế ở tất cả các mặt hoạt động tâm thần (ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế về vận động). Sự ức chế dẫn tới làm giảm sút các mặt hoạt động tâm thần và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt, hiệu suất lao động và học tập của người bệnh. Luận án Trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về trầm cảm: tổng quan lịch sử nghiên cứu trầm cảm, trầm cảm, trầm cảm ở học sinh THPT (khái niệm, biểu hiện và các yếu tố liên quan, ứng phó với trầm cảm); khảo sát và đánh giá thực trạng biểu hiện của Dựa vào các biểu hiện, trầm cảm được chia thành 4 giai đoạn sau: Giai đoạn 1 - Trầm cảm nhẹ - Cảm giác buồn bã tạm thời, mất ngủ, mệt mỏi, mất hứng thú, mất tập trung khi làm việc, không muốn giao tiếp với người khác. TRẦM CẢM tập 1 Trọn bộ TRẦM CẢM - Club Friday The Series 11: Ruk Seum Sao đây là bộ phim thể loại tình cảm Thái Lan.Phim với sự tham gia của các diễn viên Ampha Phoosit, Apinan Prasertwattanakul, Mind Waratthaya Wongchayaporn, Savitree Samipak, Siwat Chotchaicharin, Woranuch Bhirombhakdi…Hy vọng các Vay Tien Online Me. Các rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động. Nguyên nhân chính xác không rõ nhưng có thể liên quan đến việc di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hóc môn thần kinh bị thay đổi và các yếu tố tâm lý xã hội. Chẩn đoán dựa trên tiền sử. Điều trị thường bao gồm thuốc, trị liệu tâm lý, hoặc cả hai và đôi khi trị liệu sốc điện. Thuật ngữ trầm cảm thường được dùng để chỉ bất kỳ rối loạn trầm cảm nào. Một số được phân loại trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản thứ năm DSM-5 theo các triệu chứng cụ thểCác loại khác được phân loại theo bệnh nguyên Rối loạn trầm cảm do một tình trạng bệnh lý khácRối loạn trầm cảm do chất gây nghiện/thuốc Thuật ngữ trầm cảm thường được sử dụng để miêu tả giảm khí sắc hoặc nản lòng do những thất vọng ví dụ tai họa tài chính, thiên tai, bệnh nặng hoặc những mất mát ví dụ như cái chết của người thân. Tuy nhiên, các thuật ngữ chuẩn hơn cho những loại khí sắc như vậy là mất tinh thần và sự thương cảm giác tiêu cực về sự mất tinh thần và đau buồn, không giống như những người trầm cảm, làm như sau Xảy ra trong sóng có xu hướng gắn liền với suy nghĩ hoặc nhắc nhở về sự kiệnGiải quyết khi hoàn cảnh hoặc sự kiện được cải thiệnCó thể xen kẽ với những giai đoạn cảm xúc tích cựcKhông đi kèm với cảm giác vô dụng và tự ghê tởmGiảm khí sắc thường kéo dài nhiều ngày hơn là hàng tuần hoặc hàng tháng, và suy nghĩ tự sát và mất chức năng kéo dài thì ít xảy ra hơn. Nguyên nhân chính xác gây các rối loạn trầm cảm là không rõ ràng, nhưng có sự đóng góp bởi yếu tố di truyền và môi di truyền chiếm khoảng một nửa bệnh nguyên ít hơn trong trầm cảm khởi phát muộn. Do đó, trầm cảm phổ biến hơn trong số các thân nhân bậc 1 của bệnh nhân trầm cảm, và phù hợp với các cặp song sinh cùng trứng. Cùng với đó, các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phản ứng trầm cảm đối với các sự kiện bất yếu tố tâm lý xã hội dường như cũng có liên quan. Những căng thẳng lớn trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất chủ yếu, thường đi trước những giai đoạn trầm cảm lớn; tuy nhiên, các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng trừ những người có xu hướng rối loạn khí người có một giai đoạn trầm cảm lớn có nguy cơ cao hơn của các giai đoạn tiếp theo. Những người ít hồi phục và/hoặc những người có khuynh hướng lo âu có thể sẽ có nguy cơ phát triển chứng rối loạn trầm cảm. Những người như vậy thường không phát triển các kỹ năng xã hội để thích nghi với áp lực cuộc sống. Sự hiện diện của các rối loạn tâm thần khác làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn trầm cảm nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao. Các yếu tố có thể bao gồm Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với căng thẳng hàng ngàyNồng độ monoamine oxidase cao hơn enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắcTỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp cao hơnSự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinhTrong rối loạn cảm xúc theo mùa, các triệu chứng phát triển theo mùa, điển hình là vào mùa thu hoặc mùa đông; rối loạn có xu hướng xảy ra trong khí hậu với mùa đông dài hoặc khắc nghiệt. Triệu chứng hoặc rối loạn trầm cảm có thể đi kèm với các rối loạn cơ thể khác, bao gồm rối loạn về tuyến giáp Tổng quan về chức năng tuyến giáp Tuyến giáp, nằm ở vùng cổ trước, ngay dưới sụn nhẫn, gồm 2 thùy được nối bởi một eo tuyến giáp. Các tế bào nang trong tuyến sinh ra 2 hormone tuyến giáp chính Tetraiodothyronine thyroxine... đọc thêm , rối loạn về tuyến thượng thận Tổng quan về chức năng tuyến thượng thận Tuyến thượng thận nằm ở cực trên của mỗi thận xem hình Tuyến thượng thận, bao gồm Phần vỏ Phần tủy Vỏ thượng thận và tủy thượng thận có chức năng nội tiết riêng biệt. Vỏ thượng thận sản xuất đọc thêm , u não Tổng quan về các khối u trong sọ Các khối u nội sọ có thể tại não hoặc các cấu trúc khác ví dụ, dây thần kinh sọ, màng não. Các khối u thường phát triển ở tuổi thanh niên hoặc trung niên nhưng có thể phát triển ở mọi lứa... đọc thêm lành tính hay ác tính, đột quỵ Tổng quan về Đột quỵ Đột quỵ là một nhóm bệnh không đồng nhất liên quan đến sự gián đoạn đột ngột và cục bộ của dòng máu não gây ra tổn thương thần kinh. Đột quỵ có thể là Thiếu máu cục bộ 80%, điển hình là do... đọc thêm , AIDS Nhiễm trùng HIV/AIDS ở người Nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV là hậu quả của nhiễm 1 trong số 2 retrovirus tương tự nhau HIV-1 và HIV-2 chúng phá hủy tế bào lympho CD4+ và làm giảm khả năng miễn dịch... đọc thêm , bệnh Parkinson Bệnh Parkinson Bệnh Parkinson là một rối loạn thoái hóa chậm tiến triển, được đặc trưng bởi run tĩnh trạng, tăng trương lực cơ, giảm vận động và vận động chậm, và sau cùng ổn định tư thế và/hoặc dáng đi. Chẩn... đọc thêm , và xơ cứng rải rác Xơ cứng rải rác MS Xơ cứng rải rác MS được đặc trưng bởi mất các mảng myelin ở não và tủy sống. Các triệu chứng thường gặp gồm những bất thường về vận nhãn, dị cảm, yếu cơ, co cứng, rối loạn tiểu tiện và rối... đọc thêm xem bảng Một số nguyên nhân gây ra các triệu chứng trầm cảm và hưng cảm Một số nguyên nhân của triệu chứng trầm cảm và hưng cảm . 1. Ghasemi M, Phillips C, Fahimi A, et al Mechanisms of action and clinical efficacy of NMDA receptor modulators in mood disorders. Neurosci Biobehav Rev 80555-572, 2017. doi Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn trầm cảm Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác ví dụ như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có ý nghĩ tự tử Hành vi tự sát Tự sát là cái chết do một hành động cố ý tự làm hại bản thân được thiết kế để gây chết người. Hành vi tự sát bao gồm một loạt các hành vi từ cố gắng tự sát và các hành vi chuẩn bị cho đến tự... đọc thêm và có thể tìm cách tự sát. Các triệu chứng hoặc rối loạn tâm thần khác ví dụ, các cơn lo âu Tổng quan các rối loạn lo âu Mỗi người thường trải qua nỗi sợ hãi và lo âu. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài ví dụ như kẻ đột nhập... đọc thêm và hoảng sợ Cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ Một cơn hoảng sợ là sự khởi phát đột ngột của một giai đoạn ngắn, rời rạc với các khó chịu căng thẳng, lo âu, hoặc sợ hãi kèm theo các triệu chứng cơ thể và/hoặc triệu chứng nhận thức. Rối loạn... đọc thêm thường cùng tồn tại, đôi khi làm phức tạp thêm việc chẩn đoán và điều trị. Trầm cảm điển hình rối loạn đơn cực Bệnh nhân có thể xuất hiện đau khổ, mắt rền rĩ, lông mày lằn rãnh, góc dưới của miệng hạ xuống, tư thế sụp, giao tiếp bằng mắt kém, thiếu biểu hiện trên khuôn mặt, cử động cơ thể ít và thay đổi giọng nói ví dụ, giọng mềm, thiếu thân tình, sử dụng của từ đơn âm. Vẻ ngoài có thể bị nhầm lẫn với bệnh Parkinson Bệnh Parkinson Bệnh Parkinson là một rối loạn thoái hóa chậm tiến triển, được đặc trưng bởi run tĩnh trạng, tăng trương lực cơ, giảm vận động và vận động chậm, và sau cùng ổn định tư thế và/hoặc dáng đi. Chẩn... đọc thêm . Ở một số bệnh nhân, khí sắc trầm đến mức nước mắt khô; họ báo cáo rằng họ không thể trải nghiệm cảm xúc thông thường và cảm thấy rằng thế giới đã trở nên thiếu màu sắc và không có sự sống. Dinh dưỡng có thể bị suy giảm nghiêm trọng, cần can thiệp ngay lập số bệnh nhân trầm cảm không chú ý đến vệ sinh cá nhân hoặc thậm chí con cái họ, những người thân yêu khác, hoặc vật với chẩn đoán trầm cảm nặng, ≥ 5 triệu chứng sau phải xuất hiện gần như mỗi ngày trong cùng thời kỳ 2 tuần, và một trong số đó phải là khí sắc trầm hoặc mất các quan tâm thích thú Khí sắc trầm hầu hết trong ngàyGiảm sự quan tâm hoặc thích thú trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong hầu hết thời gian trong ngàyTăng cân đáng kể > 5% hoặc giảm cân hoặc tăng khẩu vịMất ngủ thường mất ngủ kiểu tỉnh giấc giữa đêm hoặc chứng ngủ nhiềuKích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động được quan sát bởi người khác của người khác không phải tự nhận xétMệt mỏi hoặc mất năng lượngCảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợpSuy giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung hoặc do dự thiếu quyết đínhNhững suy nghĩ lặp lại về cái chết hoặc tự sát, toan tự sát, hoặc một kế hoạch cụ thể để tự sát Rối loạn trầm cảm dai dẳng Triệu chứng trầm cảm kéo dài ≥ 2 năm mà không thuyên giảm được phân loại là rối loạn trầm cảm dai dẳng PDD, một thể loại hợp nhất các chứng rối loạn trước đây gọi là rối loạn trầm cảm điển hình mạn tính và loạn khí sắc. Triệu chứng thường bắt đầu một cách âm thần trong thời thanh niên và có thể tồn tại trong nhiều năm hoặc nhiều thập niên. Số lượng các triệu chứng thường dao động ở trên và dưới ngưỡng trầm cảm điển hình. Những bệnh nhân bị ảnh hưởng có thể thường ảm đạm, bi quan, mất hài hước, thụ động, thờ ơ, sống nội tâm, tự phán xét bản thân hoặc người khác quá mức, và phàn nàn. Bệnh nhân PDD cũng có nhiều khả năng bị rối loạn lo âu bên dưới Tổng quan các rối loạn lo âu Mỗi người thường trải qua nỗi sợ hãi và lo âu. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài ví dụ như kẻ đột nhập... đọc thêm , sử dụng chất gây nghiện Rối loạn sử dụng chất Rối loạn sử dụng chất có liên quan đến mô hình hành vi bệnh lý, trong đó bệnh nhân tiếp tục sử dụng chất bất chấp những vấn đề đáng kể liên quan đến việc sử dụng chất đó. Chẩn đoán rối loạn... đọc thêm hoặc rối loạn nhân cách Tổng quan về các Rối loạn nhân cách Những rối loạn nhân cách nói chung là các hình thái lan tỏa và kéo dài về suy nghĩ, nhận thức, phản ứng, và liên quan đến việc gây ra tình trạng đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng. Các... đọc thêm ví dụ, rối loạn nhân cách ranh giới.Để chẩn đoán rối loạn trầm cảm dai dẳng , bệnh nhân phải có khí sắc trầm trong hầu hết các ngày trong thời gian ≥ 2 năm cộng với ≥ 2 trong số những triệu chứng sau Chán ăn hoặc ăn quá nhiềuMất ngủ hoặc ngủ quá nhiềuGiảm năng lượng hoặc mệt mỏiLòng tự trọng thấpKém tập trung hoặc khó khăn trong việc đưa ra các quyết địnhCảm giác tuyệt vọng Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt liên quan tới các triệu chứng khí sắc và lo âu mà có liên quan rõ ràng đến chu kỳ kinh nguyệt, khởi phát trong giai đoạn tiền kinh nguyệt và khoảng thời gian không triệu chứng sau khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải xuất hiện trong hầu hết các chu kỳ kinh nguyệt trong năm với chẩn đoán rối loạn tiền kinh nguyệt, bệnh nhân phải có ≥ 5 triệu chứng trong tuần trước khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải bắt đầu thuyên giảm trong vòng vài ngày sau khi bắt đầu kinh nguyệt và đến mức tối thiểu hoặc biến mất hoàn toàn trong tuần ngay sau khi có kinh nguyệt. Các triệu chứng phải bao gồm ≥ 1 trong những điều sau Thay đổi khí sắc đáng kể ví dụ, đột nhiên cảm thấy buồn hoặc khócSự cáu kỉnh hoặc tức giận rõ rệt hoặc gia tăng mâu thuẫn giữa các cá nhânKhí sắc giảm đáng kể, cảm giác tuyệt vọng, hoặc những suy nghĩ tự hối lỗiGhi nhận sự lo lắng, căng thẳng, hoặc một cảm giác chơi vơiNgoài ra, phải có ≥ 1 điểm sau Giảm sự quan tâm trong các hoạt động thông thườngKhó tập trungGiảm năng lượng hoặc mệt mỏiSự thay đổi đáng kể trong cảm giác ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc xung động thèm thức ăn cụ thểNgủ nhiều hoặc mất ngủCảm thấy quá tải hoặc không kiểm soátCác triệu chứng cơ thể như tức ngực hoặc sưng, đau khớp hoặc cơ, cảm giác bị phát phì và tăng cân Rối loạn đau buồn kéo dài Đau buồn kéo dài là nỗi buồn dai dẳng sau khi mất người thân. Nó khác với trầm cảm ở chỗ nỗi buồn liên quan đến mất mát cụ thể hơn là cảm giác thất bại chung chung liên quan đến trầm cảm. Trái ngược với đau buồn thông thường, tình trạng này có thể gây tàn tật rất cao và cần có liệu pháp được thiết kế đặc biệt cho chứng rối loạn đau buồn kéo buồn kéo dài được coi là xuất hiện khi phản ứng đau buồn điển hình là sự khao khát hoặc khao khát dai dẳng và/hoặc mối bận tâm về người đã khuất kéo dài một năm hoặc lâu hơn và dai dẳng, lan tỏa và vượt quá các chuẩn mực văn hóa. Nó cũng phải đi kèm với ≥ 3 điều sau đây trong tháng trước ở mức độ gây ra tình trạng đau khổ hoặc tàn tật Không tinCảm xúc đau đớnCảm giác nhầm lẫn danh tínhTránh nhắc nhở về sự mất mátCảm giác tê táiCô đơn dữ dộiCảm giác vô nghĩaKhó tham gia vào cuộc sống đang diễn ra Rối loạn trầm cảm khác Các nhóm triệu chứng có đặc điểm của một rối loạn trầm cảm mà không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cho các rối loạn trầm cảm khác nhưng gây ra tình trạng khó chịu và suy giảm chức năng đáng kể trên lâm sàng được phân loại như rối loạn trầm cảm khác biệt định hoặc không biệt định.Bao gồm những giai đoạn tái diễn với ≥ 4 triệu chứng trầm cảm kéo dài 1 giai đoạn, có khả năng tái diễn; do đó, các trường hợp nặng thường đòi hỏi liệu pháp điều trị duy trì lâu hết những người bị trầm cảm được điều trị như bệnh nhân ngoại trú. Bệnh nhân có ý tưởng tự tử đáng kể, đặc biệt là khi thiếu hỗ trợ gia đình, cần phải nhập viện, cũng như những người có các triệu chứng tâm thần hoặc khiếm khuyết thể một rối loạn cơ thể hoặc là thuốc có độc tính có thể là nguyên nhân, trước tiên cần phải điều trị trực tiếp các rối loạn bên dưới. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chẩn đoán hoặc nếu triệu chứng không rõ ràng hoặc bao gồm ý tưởng tự sát hoặc cảm giác vô vọng, một thử nghiệm điều trị với một thuốc chống trầm cảm hoặc một thuốc chỉnh khí sắc có thể có loạn đau buồn kéo dài có thể được hưởng lợi từ liệu pháp tâm lý dành riêng cho chứng rối loạn này. Cho đến khi bắt đầu cải tiến rõ ràng, bác sĩ có thể cần phải xem bệnh nhân hàng tuần hoặc hai tuần một lần để hỗ trợ và giáo dục và theo dõi sự tiến triển. Việc gọi điện có thể hữu ích cho việc tái hẹn nhân và người thân có thể lo lắng hoặc ngại ngần về việc có rối loạn tâm thần. Bác sĩ có thể giúp giải thích rằng trầm cảm là một rối loạn y học nghiêm trọng gây ra bởi rối loạn sinh học và cần điều trị đặc hiệu và tiên lượng điều trị là tốt. Bệnh nhân và người thân cần được trấn an rằng trầm cảm không phải phán ánh một tính cách xấu xa ví dụ như lười biếng, yếu đuối. Nói với bệnh nhân rằng con đường phục hồi thường dao động, điều này giúp họ nhận ra vô vọng chỉ là quan điểm cá nhân và có thể giúp họ cải thiện sự tuân thủ điều khích bệnh nhân tăng dần các hoạt động đơn giản ví dụ như đi bộ, tập thể dục thường xuyên và tương tác xã hội phải được cân bằng với sự thừa nhận mong muốn tránh các hoạt động. Bác sĩ có thể đề nghị bệnh nhân tránh tự đổ lỗi và giải thích rằng những tư tưởng đen tối là một phần của rối loạn và sẽ biến mất. Nhiều thử nghiệm đối chứng cho thấy rằng liệu pháp tâm lý, đặc biệt là liệu pháp hành vi nhận thức và liệu pháp tương tác cá nhân, có hiệu quả ở những bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu, cả về điều trị các triệu chứng cấp tính và để giảm khả năng tái phát. Bệnh nhân trầm cảm nhẹ có xu hướng có kết quả tốt hơn những bệnh nhân trầm cảm nặng hơn, nhưng phổ cải thiện sẽ cao hơn ở những người bị trầm cảm nặng hơn. Một số loại thuốc và thuốc có thể được sử dụng để điều trị trầm cảm ECT liên quan đến gây cơn co giật bằng điện trong điều kiện được kiểm soát. Cơ chế hoạt động của nó là không chắc chắn nhưng việc tạo ra hoạt động co giật dường như không thể thiếu với tác dụng chống trầm cảm của nó. ECT hiện đại, được cung cấp khi có thuốc an thần nặng/gây mê toàn thân, thường được dung nạp tốt nhưng tình trạng lú lẫn và suy giảm trí nhớ có thể xảy ra trầm trọng. Phần lớn điều này được cải thiện và khỏi sau 6 tháng sau một đợt điều trị ECT, nhưng tình trạng quên ngược chiều có thể tồn tại trong thời gian dài. Điều này đặc biệt đúng đối với những kỷ niệm từ vài tháng trước khi ECT. Những bệnh nhân bị suy giảm nhận thức ở lần khám ban đầu, những người được điều trị động kinh hai bên, những bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân dùng lithium có nguy cơ cao bị suy giảm trí nhớ và lú lẫn. Những điều sau đây thường được điều trị bằng ECT nếu thuốc không có hiệu quả Trầm cảm nặng có tự sátTrầm cảm với sự kích động hoặc chậm phát triển tâm thầnTrầm cảm có hoang tưởngTrầm cảm trong thai kỳBệnh nhân chống đối ăn có thể cần ECT để ngăn ngừa tử vong. ECT đặc biệt có hiệu quả đối với trầm cảm loạn ứng từ 6 đến 10 lần điều trị ECT thường tốt và có thể cải thiện cho bệnh nhân. Tái phát sau khi ECT là phổ biến, và liệu pháp dùng thuốc thường được duy trì sau khi ngừng ECT. Liệu pháp ánh sáng được biết đến nhiều nhất cho trầm cảm theo mùa nhưng dường như có hiệu quả tương đương với chứng trầm cảm không theo thể cung cấp dịch vụ điều trị tại nhà với một thiết bị ánh sáng đặc biệt cung cấp 2500 đến lux ở khoảng cách 30 đến 60 cm mà bệnh nhân có thể nhìn trong 30 đến 60 phút/ngày lâu hơn với nguồn ánh sáng ít cường độ hơn.Ở những bệnh nhân đi ngủ muộn vào ban đêm và dậy muộn vào buổi sáng, liệu pháp ánh sáng có hiệu quả nhất vào buổi sáng, đôi khi được bổ sung với 5 đến 10 phút phơi sáng trong khoảng thời gian từ 3 giờ chiều đến 7 giờ tối. Đối với bệnh nhân ngủ và dậy sớm, trị liệu ánh sáng có hiệu quả nhất trong khoảng thời gian từ 3 giờ chiều đến 7 giờ tối. Kích thích thần kinh phế vị liên quan đến việc kích thích dây thần kinh phế vị từng nhịp thông qua một máy phát xung được cấy ghép. Nó có thể hữu ích cho trầm cảm kháng trị so với các phương pháp điều trị khác nhưng thường mất từ 3 đến 6 tháng để có hiệu sử dụng kích thích từ xuyên sọ lặp đi lặp lại rTMS để điều trị cấp tính chứng rối loạn trầm cảm nặng đã có sự hỗ trợ đáng kể từ các thử nghiệm có đối chứng. rTMS tần số thấp có thể được áp dụng cho vỏ não trước trán bên phải DLPC và rTMS tần số cao có thể được áp dụng cho DLPC bên trái. Tác dụng phụ thường gặp nhất là nhức đầu và khó chịu ở da đầu; cả hai xảy ra thường xuyên hơn khi sử dụng tần số cao hơn tần số rTMS tần số nhóm hỗ trợ ví dụ, Liên minh Hỗ trợ Bệnh nhân bị Bệnh lưỡng cực và Trầm cảm [DBSA] có thể giúp bệnh nhân bằng cách cung cấp một diễn đàn để chia sẻ những kinh nghiệm và cảm xúc chung của họ. 1. McIntyre RS, Lee y, Zhou AJ, et al The efficacy of psychostimulants in major depressive episodes A systematic review and meta-analysis. J Clin Pscyhopharmacol 37 4412-418, 2017. doi 2. Bergfeld IO, Mantione M, Hoogendoorn MLC, et al Deep brain stimulation of the ventral anterior limb of the internal capsule for treatment-resistant depression A randomized clinical trial. JAMA Psychiatry 73 5456-64, 2016. doi Trầm cảm là một rối loạn thường gặp liên quan đến khí sắc trầm và/hoặc gần như hoàn toàn mất quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động mà trước đây được thích; các biểu hiện cơ thể ví dụ, thay đổi cân nặng, rối loạn giấc ngủ và các biểu hiện nhận thức ví dụ, khó tập trung là phổ biến. Trầm cảm có thể làm giảm đáng kể khả năng làm việc tại nơi làm việc và tương tác xã hội; nguy cơ tự sát là đáng khi các triệu chứng trầm cảm là do các rối loạn về thể chất ví dụ, rối loạn tuyến giáp hoặc tuyến thượng thận, u não lành tính hoặc ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson, xơ cứng rải rác hoặc dụng một số thuốc nhất định ví dụ, corticosteroid, một số thuốc chẹn beta, interferon, một số loại chất giải trí.Chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng; rối loạn thể chất phải được loại trừ bằng cách đánh giá lâm sàng và xét nghiệm chọn lọc ví dụ, CBC, chất điện giải, TSH, B12 và folat.Điều trị liên quan đến liệu pháp tâm lý và thường là thuốc; các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin SSRI thường được thử đầu tiên, và nếu chúng không hiệu quả, có thể thử dùng các thuốc tác động đến serotoninnorepinephrin và/hoặc dopamine khác. Bài viết được viết bởi Nguyễn Thành Long - Chuyên gia tư vấn tâm thần, Phòng khám tâm lý - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Trầm cảm gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần cũng như sức khỏe của người bệnh và những người thân xung quanh. Nghiêm trọng hơn, bệnh nhân trầm cảm nặng có thể nghĩ quẩn và có nguy cơ tự sát. Bệnh trầm cảm được phân chia thành 3 mức độTrầm cảm nhẹTrầm cảm vừaTrầm cảm nặngTrong đó trầm cảm nặng là giai đoạn khó chữa và nguy hiểm nhất, bệnh nhân có thể có ý định tự sát hoặc hành động tự sát, cần phải kiên trì điều trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát. Theo các thống kê, tuy nam giới ít bị trầm cảm hơn, nhưng khi rơi vào trầm cảm, xu hướng tự sát lại cao bệnh nhân trầm cảm nguy cơ tự sát cao đa số ở hai nhóm chínhNam giới, trên 50 tuổi, sống ở nông giới, trẻ tuổi, sống ở thành đồ tự sát nhiều hơn khoảng 10 - 12 lần so với hành vi tự sát. Nguy cơ cao ở những người đã từng tự sát hoặc người cùng huyết thống từng tự sát, trầm cảm, nghiện rượu, cũng như ở những người sống cô lập với xã hội. Tự sát có thể đột ngột hoặc được chuẩn bị trước, âm thầm hoặc báo trước. 2. Dấu hiệu của trầm cảm nặng Người bị trầm cảm nặng có 2 triệu chứng chính cốt lõi và hầu hết hoặc tất cả các triệu chứng liên quan của bệnh trầm cảm và có thể có thêm một số dấu hiệu triệu chứng chínhTâm trạng buồn bã, có hoặc không kèm theo triệu chứng hay khóc, bi quan trước mọi có động lực, giảm hứng thú trong mọi việc, kể cả những hoạt động nằm trong sở thích trước triệu chứng liên quanRối loạn giấc ngủThay đổi khẩu vịChuyển động chậm chạp hoặc dễ bị kích độngCảm giác tội lỗi, thất vọng về bản khăn trong việc tập trung hoặc giải quyết các vấn đề đơn giản hàng nghĩ về cái chết hoặc có ý định tự hiệu khácỞ giai đoạn này người bệnh thậm chí không thể thực hiện các hoạt động sơ đẳng nhất trong sinh hoạt hàng số trường hợp còn mắc thêm các chứng bệnh hoang tưởng, bệnh ảo giá các triệu chứng của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu là rất khó khi bệnh nhân có một bệnh lý khác ung thư, nhồi máu cơ tim, đái đường,.... Ví dụ trong bệnh đái đường bệnh nhân luôn mệt mỏi, sút cân. Các triệu chứng này là hậu quả tất yếu của bệnh đái đường, vì thế không được tính là triệu chứng trầm cảm. Tâm trạng buồn bã, rối loạn giấc ngủ là những biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân trầm cảm 3. Nguyên nhân gây ra trầm cảm nặng Trầm cảm vừa và nhẹ, nếu không được điều trị kịp thời có nguy cơ phát triển thành trầm cảm nặng. Đây là nguyên nhân chính và trực tiếp tố di truyền Nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì nguy cơ mắc bệnh ở con cái cũng cao hơn người bình tính Theo các nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với nam giới. Nguyên nhân là do phụ nữ thường phải gánh vác nhiều hơn như công việc xã hội, gia đình, áp lực dồn nén, con cái không có thời gian chia sẻ, cũng như thời gian chăm sóc bản thân,...Stress kéo dài Căng thẳng và stress kéo dài sẽ làm mất cân bằng tâm lý, gặp phải sang chấn về tâm lí như mất người thân hay gặp phải những chuyện quá shock cũng là nguyên nhân gây ra căn bệnh ảnh hưởng bởi một số bệnh Chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, sa sút trí tuệ,...cũng dễ mắc bệnh trầm ngủ thường xuyên Khi đã bị bệnh trầm cảm đến giai đoạn nặng cần phải được điều trị bệnh để tránh những hậu quả xấu xảy ra. 4. Dấu hiệu và nguy cơ tự sát Hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩ về cái chết Hầu hết bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đều có ý nghĩ về cái chết, nặng hơn là có ý định hoặc hành vi tự đầu bệnh nhân nghĩ rằng bệnh nặng thế này mất ngủ, chán ăn, sút cân, mệt mỏi... thì chết mất. Dần dần, bệnh nhân cho rằng chết đi cho đỡ đau khổ. Các ý nghĩ này biến thành niềm tin rằng những người xung quanh có thể sẽ khá hơn nếu bệnh nhân chết, từ đó dần dần hình thành ý nghĩ, hành vi tự sát. Khi phát hiện ra ý định tự sát ở bệnh nhân trầm cảm, buộc phải cho bệnh nhân điều trị nội trú trong các khoa tâm thần của bệnh độ và cường độ của ý định tự sát có thể rất khác nhau. Một số bệnh nhân tự sát ít nghiêm trọng có thể ý định tự sát mới chỉ ập đến chỉ 1 - 2 phút trước đó mà trước đó bệnh nhân chưa hề nghĩ đến cái chết. Trường hợp nặng hơn, ý nghĩ tự sát tái diễn 1 hoặc 2 lần/tuần, họ có thể cân nhắc kỹ càng trước khi hành nhân có ý định tự sát có thể chuẩn bị vật chất vũ khí, dao, dây thừng, chất độc, thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột,... để sử dụng cho hành vi tự sát, địa điểm và thời gian mà họ chỉ có một mình để tự sát thành số bệnh nhân có thể lập kế hoạch thực tế kỹ càng để đảm bảo tự sát sẽ kết thúc bằng cái chết. Có nhiều bệnh nhân thậm chí còn viết thư tuyệt mệnh, thông báo cho bạn bè hoặc người thân về ý định tự sát của họ. Các hành vi này phối hợp với hành vi tự sát được sử dụng để xác định các bệnh nhân có nguy cơ tự sát cao nhằm có biện pháp xử nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể dự đoán một cách chính xác được bệnh nhân trầm cảm có cố gắng tự sát hay không và khi nào tự cơ tự sát của bệnh nhân là mong muốn cao độ chấm dứt một trạng thái cảm xúc đau khổ, sự tra tấn đang hành hạ cơ thể bệnh nhân trầm cảm. Về mặt lâm sàng, các bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát và không có hành vi tự sát có triệu chứng giống hệt nhau. Điểm duy nhất khác biệt ở 2 nhóm bệnh nhân này là những bệnh nhân có ý định tự sát thường có các hành vi tự sát trong tiền hỗ trợ điều trị bệnh trầm cảm nặng cần thời gian và kết hợp với rất nhiều các phương pháp như dùng thuốc, liệu pháp tâm lý, vận động, chế độ ăn uống. Bệnh nhân trầm cảm cần được hỗ trợ từ bác sĩ tâm lý Nguy cơ tự sát cao nhất ở bệnh nhân trầm cảm nặng, nhưng hoàn toàn có thể gặp ở bệnh nhân bị trầm cảm ở mức độ nhẹ hoặc vừa. Hơn nữa, bệnh nhân trầm cảm nặng có nguy cơ tự sát thường là do trầm cảm ở thể nhẹ hơn, có nhiều dấu hiệu bệnh nhưng lại không được điều trị kịp đó, nếu bệnh nhân có biểu hiện của bệnh trầm cảm, cần đưa người bệnh đi khám ngay để xác định được mức độ bệnh cũng như phương án xử lý. Các chuyên gia tâm lý, tâm thần sẽ sử dụng nhiều biện pháp đánh giá trắc nghiệm tâm lý, liệu pháp tâm lý kết hợp với một số xét nghiệm cận lâm sàng Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số 02439743556 hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Trầm cảm ở phụ nữ sau sinh có chữa được không? XEM THÊM Sức mạnh của việc kiềm chế cảm xúc Chăm sóc và cấp cứu người có hành vi tự sát Ứng phó với cảm xúc tiêu cực Phần 2 Bài viết này được viết cho người đọc tại Hà Nội. Dịch vụ từ Vinmec Club Friday The Series 11 Ruk Seum Sao 2019 Hoàn Tất 6/6 - Thể loại Phim Tình Cảm, Phim Tâm Lý, Phim Bộ Thông tin phim Trầm Cảm Club Friday The Series 11 Ruk Seum Sao 2019 Trạng thái Hoàn Tất 6/6 Quốc gia Phim Thái Lan Diễn viên Ampha Phoosit, Apinan Prasertwattanakul, Mind Waratthaya Wongchayaporn, Savitree Samipak, Siwat Chotchaicharin, Woranuch Bhirombhakdi Thời lượng 45 phút/tập Thể loại Phim Tình Cảm, Phim Tâm Lý, Phim Bộ Chin là một chàng trai hoàn hảo đẹp trai, hiền lành và thành công trong công việc. Anh đã gặp và yêu Mew, cô gái lương thiện, ấm áp nhưng lại gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Vì một biến cố mà Mew bị chủ nhà đuổi đi ngay trong đêm. Chin đã đưa cô về nhà để sống cùng. Nhưng mẹ Chin lại là một người cay độc, bao bọc và kiểm soát con trai quá mức. Bà đã chọn được một cô con dâu ưng ý và muốn Chin phải cưới cô gái đó. Vì vậy khi Chin mang Mew về sống cùng, bà đã làm mọi thứ để ngăn cản. Chin sẽ phải làm gì để giữ được Mew? Trầm cảm là bệnh gì? Trầm cảm là một bệnh thuộc tâm thần học đặc trưng bởi sự rối loạn khí sắc. Bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên do một yếu tố tâm lý nào nào tạo thành những biến đổi bất thường trong suy nghĩ hành vi tác phong. Phụ nữ thường gặp bệnh trầm cảm nhiều hơn nam giới 2 nữ/ 1 nam xảy ra ở nhiều lứa tuổi đặc biệt trong độ tuổi trưởng thành. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm ngày một gia tăng, theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 850000 chết do hành vi tự sát do bệnh trầm cảm, là một bệnh phổ biến ở trên toàn cầu. Tuy nhiên trong số đó những người được chẩn đoán và điều trị kịp thời còn rất thấp chiếm khoảng 25% Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát, trầm cảm do nguyên nhân khác nhau nhưng gặp tỉ lệ cao ở các đối tượng thất nghiệp, phá sản, ly hôn,... Trầm cảm là bệnh không còn xa lạ có thể chữa trị được khỏi hoàn toàn vì vậy cần được khám và điều trị kịp thời. Trầm cảm do các nguyên nhân sau gây nên Nội sinh trầm cảm chưa rõ nguyên nhân có nhiều giả thuyết cho rằng do di truyền, yếu tố tự miễn, môi trường sống , xã hội nhưng chưa thực sự rõ ràng Trầm cảm do căng thẳng do áp lực từ nhiều phía như công việc, gia đình, con cái, phá sản hay do những điều đột ngột xảy đến như mất đi người thân, mất tiền của,... Trầm cảm có thể xuất hiện các bệnh lý hay chấn thương tác động trực tiếp đến não bộ Trầm cảm có thể không rõ nguyên nhân Bệnh trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng sau đây Khí sắc trầm buồn khí sắc trầm buồn được biểu hiện qua nét mặt của bệnh nhân buồn bã, rầu rĩ, ủ rũ nét mắt rất đơn điệu, giảm hoặc mất các nếp nhăn. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn bã, chán nản, bi quan, mất hết niềm tin trong cuộc sống. Mất hứng thú hoặc các sở thích trước đây cảm giác nặng nề, mệt mỏi không muốn làm việc, đi đứng chậm chạp, luôn luôn cảm thấy mình không có đủ sức khỏe để làm việc dù là việc nhẹ, không quan tâm đến xung quanh kể cả con cái đang vui chơi cũng không để ý quan tâm. Bệnh nhân tự cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có trước đây kể cả ham muốn tình dục. Nam nữ có biểu hiện suy giảm tình dục như lãnh cảm ở nữ hoặc rối loạn cương dương ở nam giới Rối loạn giấc ngủ mất ngủ là triệu chứng hay gặp nhất chiếm 95% số trường hợp bệnh nhân trầm cảm. Bệnh nhân cảm thấy trằn trọc khó đi vào giấc ngủ mặc dù đôi khi cảm thấy rất buồn ngủ nhưng lại không thể ngủ, thức dậy sớm hơn bình thường. bệnh nhân được coi là mất ngủ khi ngủ ít hơn 2 tiếng mỗi ngày so với bình thường. Bệnh nhân có thể thức trắng cả ngày lẫn đêm trong nhiều ngày dẫn đến suy nhược cơ thể. Mất cảm giác ngon miệng, gầy sút cân, một số ít có biểu hiện tăng cân bệnh nhân trầm cảm mất cảm giác ngon miệng, không muốn ăn thậm chí có trường hợp nhịn ăn hoàn toàn dẫn đến gầy sút cân. Một số ít trường hợp có cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn bình thường dẫn đến tăng cân Mệt mỏi, giảm tập trung, giảm sút năng lượng hay than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân nào, giảm khả năng tập trung vì vậy hiệu quả công việc giảm sút. Cảm giác mệt mỏi thường nặng hơn vào buổi sáng. Không còn hứng thú với việc gì. Bệnh nhân mệt mỏi không muốn làm gì đối với những trường hợp nặng còn không thể thực hiện được các công việc hàng ngày như đi ra chợ, nấu cơm, giặt quần áo Cảm giác vô dụng, tội lỗi luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai. Tự cảm thấy có lỗi với người thân, thua kém người khác, trở nên vô dụng. Biểu hiện sinh lý nhức đầu, mỏi vai gáy, hồi hộp trống ngực, đau nhức tay chân Cảm giác lo lắng vô cớ, ám ảnh bệnh tật vô lý, dễ nổi giận với những người xung quanh, có những cơn sợ hãi, ngại giao tiếp, ít quan tâm đến người khác, đòi hỏi cao về những người khác Hình thức bên ngoài ăn mặc lôi thôi lếch thếch, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc giận dữ vô cớ, giọng nói trầm buồn đơn điệu gợi ý về bệnh trầm cảm. Có ý định và hành vi tự sát hầu hết bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩ về cái chết nặng hơn là có ý định tự sát. Cảm giác tuyệt vọng không có lối thoát. Họ bị ám ảnh về bệnh tật, chán nản, dễ bị tổn thương dần dần tự nghĩ rằng chết đi cho đỡ đau khổ. Sau một sang chấn tâm lý phá sản, mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn,... Sau sinh con khoảng vài tuần chiếm 1 tỷ lệ khá lớn cần được phát hiện kịp thời Đối với học sinh, sinh viên áp lực học tập quá lớn nhiều bài vở, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô, Sau tổn thương thực tổn chấn thương sọ não,... Đối với một số sang chấn tâm lý không thể lường trước được như mất đi người thân, phá sản cần quan tâm, gần gũi, chia sẻ lấy lại niềm tin cho người bệnh Tránh các sang chấn tâm lý gạt bỏ áp lực trong cuộc sống nếu có thể Đối với những người có biểu hiện trầm cảm cần theo dõi giám sát người bệnh vì người bệnh có thể có hành vi tự sát bất kì lúc nào Đưa đến khám bệnh chuyên khoa tâm thần để được chẩn đoán bệnh kịp thời Có thể chẩn đoán trầm cảm theo 2 tiêu chuẩn sau Tiêu chuẩn chẩn đoán của trầm cảm theo ICD-10F1992 Trầm cảm điển hình bao gồm Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng sau Giảm khí sắc Mất mọi quan tâm, thích thú Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi, giảm các hoạt động Có ít nhất 3 triệu chứng phổ biến sau Giảm tập trung chú ý Giảm tự trọng và lòng tự tin Ý tưởng bị tội và không xứng đáng Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan có ý tưởng và hành vi tự sát Rối loạn giấc ngủ Ăn không ngon miệng Các triệu chứng tồn tại ít nhất 2 tuần Không đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán các bệnh lý khác Chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM IV Trong vòng 2 tuần hầu như mỗi ngày Tính khí sầu muộn và hoặc từ chối những niềm vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệu chứng dưới đây Giảm hoặc tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng Mất ngủ hoặc ngủ triền miên Kích động hoặc trở nên chậm chạp Mệt mỏi hoặc mất sức Cảm thấy vô dụng hoặc cảm giác tội lỗi Giảm khả năng tập trung Có ý tưởng và hành vi tự sát Giảm ham muốn Trầm cảm nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời thì nguy cơ bệnh nhân tự sát là rất cao chiếm 50% tổng số bệnh nhân trầm cảm. Trong gia đình, người thân có ai có những biểu hiện trên cần được đưa đến bệnh viện chuyên khoa tâm thần khám phát hiện và chữa trị kịp thời. Nguyên tắc điều trị Cắt các rối loạn cảm xúc Chống tái phát Phục hồi chức năng Không được tự ý dùng thuốc Dùng thuốc đúng, đủ theo phác đồ, không tự ý bỏ thuốc Thông báo với bác sĩ những tác dụng phụ của thuốc để đưa ra hướng giải quyết phù hợp nhất Có nhiều loại thuốc chống trầm cảm, thuốc điều chỉnh khí sắc theo đúng cơ chế bệnh tùy từng trường hợp bệnh cụ thể do bác sĩ chuyên khoa tâm thần kê đơn đem lại hiệu quả rất tốt tỉ lệ khỏi bệnh cao, ít tái phát Điều trị bằng liệu pháp tâm lý chia sẻ, cảm thông, gần gũi người bệnh Điều trị khác như vật lý trị liệu xoa bóp trị liệu, châm cứu,... Xem thêm Bạn có bị trầm cảm không? Trầm cảm nặng Dấu hiệu và nguy cơ tự sát Nhận diện sớm một người trầm cảm Trầm cảm có triệu chứng loạn thần là một thể trầm cảm nặng. Cùng với những triệu chứng điển hình của trầm cảm như buồn bã, mất niềm tin, lo ngại mình mắc nhiều loại bệnh,... bệnh nhân trầm cảm nặng còn bị hoang tưởng và ảo giác, tự buộc tội chính bản thân. Khoảng 10 - 15% người trưởng thành sẽ trải qua ít nhất một cơn trầm cảm nặng trong một giai đoạn nào đó của cuộc sống. Rối loạn trầm cảm nặng có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào, phổ biến nhất là từ 20 - 50 tuổi và trung bình là khoảng 40 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh đang ngày càng gia tăng ở nhóm người dưới 20 tuổi mà các chuyên gia cho rằng có thể liên quan đến sử dụng rượu hoặc ma tuý. Trầm cảm thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, đặc biệt trầm cảm nặng cao đáng kể ở những người có mối quan hệ xã hội kém hoặc đã ly hôn, góa bị trầm cảm nặng, người bệnh có biểu hiện sút cân, giảm hoặc mất chức năng tình dục, mất ngủ, nhiều biểu hiện rối loạn thần kinh và các rối loạn về cơ thể. Trong đó, loạn thần là các triệu chứng ảo giác và hoang tưởng ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau. Ví dụ, người bệnh có những thay đổi đáng kể về khí sắc và mất hứng thú với mọi chuyện, trở nên quan tâm và lo ngại quá mức về bệnh tật, cảm thấy mình vô dụng và tội lỗi, ám ảnh về ý tưởng tự tử, hoặc chậm chạp về cả vận động lẫn suy nghĩ, loạn cảm giác... Các triệu chứng trên không phải gây ra do một chất kích thích gây nghiện, một bệnh lý cụ thể hay một sự kiện đau buồn mất mát nào đó. 2. Chẩn đoán và điều trị trầm cảm nặng có loạn thần Chẩn đoán Rất khó để chẩn đoán phân biệt trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần với tâm thần phân liệtTâm thần phân liệt Triệu chứng trầm cảm thường sau biểu hiện loạn thần. Bệnh nhân tâm thần phân liệt thường trải qua các giai đoạn trầm cảm thứ phát, đặc biệt sau khi xuất hiện loạn thần cảm có biểu hiện loạn thần Các rối loạn khí sắc thường theo sau hoặc xảy ra đồng thời với triệu chứng loạn thần. Người bệnh có những giai đoạn hoạt động bình thường xen giữa các cơn loạn thần, kết hợp với rối loạn khí đối với tình trạng loạn cảm xúc phân liệt, bệnh nhân sẽ trải qua các giai đoạn loạn thần mà không biểu hiện rối loạn khí sắc, nhưng việc chẩn đoán cũng khá khó khăn. Dùng thuốc điều trị trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần Điều trị Dùng thuốc và điện trị liệu sẽ đặc biệt hữu ích trong điều trị rối loạn trầm cảm, bao gồm triệu chứng loạn thần lẫn triệu chứng cơ thểThuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc Bệnh nhân có các triệu chứng cơ thể ví dụ chán ăn, mất ngủ, chậm chạp sẽ đáp ứng với thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc tốt hơn người có nhiều triệu chứng loạn thần chống loạn thần Ở bệnh nhân trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần hoặc lo âu, thuốc chống loạn thần có hiệu quả khá tốt, nhất là khi dùng kết hợp với những loại thuốc khác hoặc biện pháp choáng điện do dạng bệnh này thường ít đáp ứng với thuốc chống trầm cảm đơn lẻ. Các triệu chứng có thể cải thiện rõ rệt sau dùng thuốc bao gồm hoang tưởng, ảo giác, lú lẫn hay lo âu quá trị liệu Tạo ra cơn co giật bằng cách cho dòng điện chạy qua não một cách an toàn và hiệu quả. Thông thường, một đợt điều trị sẽ bao gồm 6 - 10 lần choáng điện với tần suất 3 - 4 lần/ tuần. Ưu điểm của phương pháp này là đáp ứng nhanh trong vòng vài ngày, thích hợp với các triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng đe dọa đến tính chung bệnh nhân trầm cảm nặng đến mức có biểu hiện loạn thần thường khó đáp ứng với điều trị và cũng rất dễ tái phát. Hơn nữa, triệu chứng loạn thần cũng là một trong những yếu tố tiên lượng xấu của bệnh trầm cảm. Vì vậy, cần phải phát hiện sớm trầm cảm có kèm theo loạn thần không, bệnh nhân có tư tưởng hoặc hành vi tự sát hay không để có biện pháp xử lý kịp dõi website Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec để nắm thêm nhiều thông tin sức khỏe, dinh dưỡng, làm đẹp để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người thân yêu trong gia đình. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tìm hiểu về tình trạng vú tiết sữa Galactorrhea Công dụng thuốc Diouf Hóa chất nào của não có liên quan đến thuốc chống trầm cảm?

trầm cảm tập 4